Sau đây là bản dịch bài viết
trên blog của Tim Ferriss. Tiêu đề do người dịch đặt lại.
Trước khi tôi phải thiết lập chính sách không đọc phê bình/không
quảng cáo của tôi cho các cuốn sách với lý do dung lượng, tôi đã nhận được một
email từ Rick Smith, giám đốc điều hành sáng lập của World 50, một trong những công ty
điều hành mạng cao cấp độc nhất trên thế giới, với các thành viên và cộng tác
viên như Bono, Francis Ford Coppola, và Phil Knight…
Anh ta quan tâm tới việc nhờ tôi xem cuốn sách mới Leap của anh ta, và tôi có gợi ý anh ta gửi cuốn sách với
việc hiểu rằng tôi có thể không có thời gian đọc nó. Nói thật, tôi đã mất một
thời gian dài băn khoăn lật cuốn sách ra, như phụ đề "Cách 3 thay đổi đơn
giản có thể đẩy sự nghiệp của bạn từ Tốt thành Vĩ đại", theo ý kiến tôi, là
thiếu kêu gọi tình dục và lạc đường. Nó nên được đặt là "Cách thúc đẩy cuộc
đời bạn từ Tốt thành Vĩ đại". "Sự nghiệp" không phải từ thích hợp
chút nào.
Tôi đã kết thúc cuốn sách trong hai lượt.
Cuối cùng, đây là một cuốn sách phá hủy huyền thoại ông chủ
công ty là người mạo hiểm, sử dụng các minh chứng trong các doanh nghiệp khởi
nghiệp đã trở thành các công ty Fortune 100, cho tới Live Aid, và Girl Scouts.
Một trong những loại kháng cự khó chịu nhất mà tôi gặp phải
khi nói chuyện về thiết kế phong cách sống hay phẩm chất để làm ông chủ là một
câu trả lời đại khái theo các dòng kiểu "Tuyệt vời cho bạn, nhưng tôi có
con nhỏ và thế chấp. Tôi không muốn mạo hiểm."
Phần lớn những ông chủ công ty rất thành công mà tôi biết đều
không đánh cuộc lớn, mà chỉ đánh cuộc nhỏ trong khi giữ một chân chắc chắn ở
khu an toàn. Điều này thường bao gồm thử cái gì đó mới, trong khi vẫn làm việc
toàn thời gian, như bản thân Rick đã làm trước khi tạo ra World 50 từ con số 0.
Phần lớn họ không bao giờ đánh bạc trong đời thực, và một tỷ lệ tương đối không
đầu tư vào thị trường công (giống như tôi) bởi vì thiếu khả năng kiểm soát. Có
những người bạo gan đặt hết mọi thứ lên bàn để được ăn cả, ngã về không không?
Chắc chắn. Nhưng đừng tin, chỉ bởi truyền thông thường thích làm nổi bật những
kẻ liều mạng táo tợn này, rằng họ là phần lớn các nhà sáng lập tuyệt hạng. Không
phải.
Sau đây là một đoạn trích trong Leap cho thấy nhận thức của
những ông chủ doanh nghiệp xa tới đâu. Trong trường hợp này, chúng ta bắt đầu với
Bill Gates.
Đặt tất cả thẻ đánh bạc
lên bàn?
Khi tôi lớn lên, với một sự quan tâm sớm tới kinh doanh, gần
như không thể không ghen tỵ với những người như Gates, và thậm chí so sánh bản
thân với họ. Gates đã đặt toàn bộ thẻ đánh bạc lên bàn ở một thời điểm, và ra đi
giàu có hơn Croesus. Còn tôi? Ừm, thậm chí tôi còn chưa bao giờ ngồi xuống bàn.
Cách tôi đã nhìn nó, tôi không thể.
Tôi tốt nghiệp ở một trường đại học của bang với một đống nợ
để trả. Tôi đã bắt đầu đào được con đường ra khỏi nợ nần cá nhân không sớm hơn
trước khi gặp vợ tôi (người đã không thể mang cái xẻng riêng của cô ý). Tôi nhớ
câu nói đùa của bố vợ sau khi chúng tôi kết hôn, "Con trai," bố vợ nói,
"bố muốn để con biết về của hồi môn của Lori, đó là các khoản vay sinh viên
và những chiếc răng xấu xí của cô ý!" Ông cười rộ lên, còn tôi thì rên rỉ.
Thêm vào đó là 3 đứa trẻ sinh ra trong vòng 5 năm, và tôi đã cảm thấy như thể tôi
bước đi ì ạch trên cát lún.
Nếu tôi ở vị trí khác, tôi đã thường suy nghĩ. Nếu tôi có
can đảm để mạo hiểm hơn, giống như Bill Gates, giống hàng đống người khác mà tôi
đã liệt kê cho chính tôi. Và cuối cùng, sau nhiều năm, tôi đã nhận ra rằng đó hoàn
toàn không phải cách mà mọi thứ đã diễn ra.
William Henry Gates III sinh ngày 28/10/1955 ở Seattle,
Washington, trong một gia đình với lịch sử giàu có về kinh doanh, chính trị và
dịch vụ cộng đồng. Cụ của ông làm ở cơ quan lập pháp, và là thị trưởng, ông của
ông là phó chủ tịch một ngân hàng quốc gia, và cha ông là một luật sư rất giàu
có và nổi tiếng.
Do chàng trai trẻ Bill học giỏi xuất sắc sớm ở trường học, đặc
biệt là khoa học và toán học, bố mẹ của anh ta đã thấy rằng anh ta được đăng ký
vào trường Lakeside Prep danh tiếng, nổi tiếng với môi trường học thuật sôi nổi.
Đó là khoảng cuối những năm 1960, khi mà thế giới tính toán mới chỉ bắt đầu hé
ra và mang một thẻ giá vàng. Nhưng không vấn đề gì. Để đảm bảo học sinh của
Lakeside không bị bỏ lại phía sau, nhà trường đã tổ chức gây quỹ, với số tiền
thu được, thuê những gì mà trường cho rằng có trị giá thời gian một năm trên một
máy tính sở hữu bởi General Electric.
Bill Gates, bạn thân của anh ta Paul Allen, và một số ít người
khác đã tấn công kế hoạch đó một cách rất khẩn trương. Họ bắt đầu lang thang
trong phòng máy tính ngày và đêm, học mọi thứ họ có thể, thậm chí bỏ qua các
nghĩa vụ học thuật khác của họ. Trong khoảng vài tuần, giá trị của thời gian máy
tính được phân bổ của năm dự kiến đã hết, nhưng đấy cũng không phải vấn đề. Trường
đơn giản ký thỏa thuận mới, lần này với Tập đoàn Trung tâm Máy tính đặt tại Seattle để lấy thêm thời gian máy tính
với tỷ lệ tốt.
Điều đó lẽ ra đã hoạt động nếu các chàng thanh niên Gates và
bạn bè không ngay lập tức bắt đầu (a) bẻ khóa hệ thống an ninh của Tập đoàn này
để họ có thể đặt lại đồng hồ đo sử dụng máy tính và (b) đánh sập hệ thống chỉ là
cho vui. Họ đã bị bắt, và công ty cấm Gates và đồng bọn sử dụng máy tính trong
vài tuần. Suy nghĩ của Gates và Allen như là các cha đỡ đầu của tiểu văn hóa bẻ
khóa đã gây thiệt hại cho Microsoft và thế giới hàng trăm tỷ đô-la thực sự làm
rối bời tâm trí. Nhưng lại một lần nữa, việc lưu vong chỉ là tạm thời.
Việc kinh doanh của tập đoàn bắt đầu chịu thiệt hại từ an
ninh yếu đuối của hệ thống và việc thường xuyên sụp đổ hệ thống, nhiều lỗ hổng
trong đó đã được Gates và bạn bè khai thác,
vì thế công ty đã đưa ra một thỏa thuận với nhóm của Gates: tìm lỗi và xác
định chính xác chỗ yếu của hệ thống và họ có thể sử dụng không giới hạn máy tính.
Năm 1970, Tập đoàn Trung Tâm Máy tính rơi vào rắc rối tài chính
và có thể đẩy nó ra khỏi khu vực kinh doanh, nhưng khi đó, Gates và Allen đã tìm
thấy một căn nhà máy tính mới ở Đại học Washington nơi mà bố của Allen làm việc.
Lakeside cũng hăng hái bắt tay: trong suốt năm học của Gates tại trường chuẩn bị,
ban lãnh đạo trường đề nghị anh ta một công việc là máy tính hóa hệ thống thời
gian biểu. Trong mùa hè, Gates và Allen viết chương trình, điều này tình cờ đã đảm
bảo Gates được phân vào lớp toàn con gái, một cảnh phim trả thù của anh chàng mọt
sách.
Mùa thu năm 1973, Gates rời Seattle để bắt đầu sinh viên năm
1 ở Harvard, một phần của kế hoạch cuộc đời tiền lập trình. Allen, người đã gần
như chắc chắn đã được chọn tới Harvard cùng với bạn, đã chọn một con đường khác.
Anh muốn kinh nghiệm thực tiễn, nhưng cả hai vẫn giữ liên lạc thân thiết, thường
trao đổi về khả năng một ngày thành lập công ty, và cuối năm thứ nhất của Gates
tại Harvard, Allen đã chuyển tới gần hơn ở Boston để hai người có thể tiếp tục
theo đuổi những khả năng vẫn còn chưa rõ ràng. Sau đó, tháng 12 của năm sinh viên
thứ 2 của Gates, tương lai lờ mờ đã bắt đầu hiện rõ hình hài.
Trong một chuyến thăm tới Harvard, Allen dừng lại ở một cửa
hàng đồ tiện nghi và chú ý tới số báo hiện tại của tạp chí Popular Electronics.
Trên trang bìa, dưới tiêu đề "Thiết bị vi máy tính đầu tiên của thế giới tới
các mô hình thương mại cạnh tranh" là bức ảnh của Altair 8800. Được tiếp
sinh lực như chưa bao giờ có, Allen đã đưa tờ tạp chí cho Gates và trong một vài
ngày, Gates đã gọi cho nơi sản xuất máy tính, Micro Instrumentation Telemetry Systems
(MITS), và nói với họ rằng anh đã viết một chương trình máy tính BASIC có thể sử
dụng trên Altair.
Đó là một lời nói dối. Gates và Allen chỉ thử đo sự quan tâm
của công ty. Nhưng MITS đã thất vọng sâu sắc: cái máy tính ở trên trang bìa vẫn
chưa được triển khai và thậm chí mẫu đầu tiên đã bị mất khi chuyển hàng. Tuy vậy,
tạp chí vẫn tạo ra sự hấp dẫn vượt xa mong đợi, vì thế mà MITS đề nghị Gates và
Allen tới và trình bày điều họ đang nghĩ. Chỉ khi đó cả hai mới bắt đầu viết mã.
Gates tập trung vào lập trình trong khi Allen làm việc về mô phỏng cách chương
trình hoạt động trên Altair 8800 mà họ đã không có.
Tại cuộc họp 8 tuần sau đó, chương trình đã hoạt động một cách
hoàn hảo, và MITS sắp xếp thỏa thuận mua quyền cho BASIC của Gates. Gates sau này
nói rằng chính ở thời điểm đó, anh biết là thị trường phần mềm đã ra đời. Mặc dù
sự chắc chắn đang lớn lên của Gates về cơ hội ngay trước mắt, Bill Gates đã phải
chờ thêm 12 tháng, cho tới hết năm 3 đại học, anh ta mới bỏ học, và cùng với
Allen thành lập Microsoft. Và thậm chí sau đó, công ty đáng lẽ chỉ hơn một chút
so với một ghi chú trong lịch sử phần mềm nếu không có mẹ của Bill Gates.
Hoạt động phục vụ cộng đồng lâu năm ở khu vực Seattle, Mary
Maxwell Gates đã trở thành nữ chủ tịch đầu tiên của United Way of King County và
là chủ tịch của ủy ban điều hành của United Way quốc gia, một trong những vị trí
phi lợi nhuận ảnh hưởng nhất trên thế giới. Một trong những người phục vụ cho ủy
ban điều hành với sự hậu thuận của bà đầu những năm 1970 là John Akers, người
sau này trở thành CEO và chủ tịch của
International Business Machines (IBM) và John Opel, người tiền nhiệm của
Akers trong cả hai vị trí.
Mary Gates có đề cập với Opel về công ty mới của con trai bà,
các thông tin này được Opel sắp xếp lại cho các giám đốc điều hành cao cấp khác của IBM. Không có bản ghi chép về những điều đã
được nói và nói với ai, nhưng chỉ một ít tuần sau khi Mary Gates đánh tiếng,
IBM đã nắm lấy một cơ hội lớn bằng việc hợp đồng với công ty non trẻ của Gates
để phát triển một hệ điều hành cho máy tính
cá nhân đầu tiên của công ty. Thành công của cả máy tính cá nhân IBM và hệ điều
hành MS-DOS, cùng với thỏa thuận ngọt ngào cho phép Microsoft giữ lại quyền cho
phần mềm của họ, là cái cuối cùng mà Bill Gates đã làm, người đàn ông giàu nhất
thế giới.
Kinh nghiệm, chứ
không phải niềm tin
Vậy, phải chăng Bill Gates đã bỏ những bằng cấp danh giá nhất
thế giới để theo đuổi một con đường không an toàn? Đấy, cuối cùng thì anh ta đã
làm nhữn quyết định mà không thể quay lại được. Phần huyền thoại đó hoàn toàn
chính xác. Nhưng có phải Gates là một người mạo hiểm vĩ đại không? Đó là một câu
chuyện phức tạp hơn.
Vị thế và của cải của gia đình anh ta cung cấp cho anh ta sự
đảm bảo cho tuổi trẻ học máy tính vui vẻ và anh ta có thể nhận giáo dục tốt nhất
có thể. Đối với câu chuyện bỏ học Harvard nổi tiếng, anh ta đã xin bảo lưu để rời
khỏi trường, một kiểu dây rốn tình cảm giữ chặt anh ta với Harvard lâu dài sau
thời gian nghỉ học, trong trường hợp công việc không tới đâu cả. Nhưng cũng từ đó,
anh ta đã hoàn toàn chuyển ván bài về phía có lợi cho anh ta. Sau một nửa thập
kỷ nhảy múa với cơ hội, bắt đầu sớm trong trường THPT, anh ta đã bao phủ phần lớn
rủi ro bất lợi của mình. Ví dụ anh ta biết rằng anh ta yêu công việc và
Micro-soft thời kỳ đầu đã có các dự án đang được triển khai.
Thêm nữa, Gates đã xác nhận rằng cả anh và Allen đều thừa khả
năng với công nghệ mới này, và anh ta có thể thấy khả năng này là rất lớn. Công
nghiệp mới chỉ đang ló ra, và mẹ anh ta ở một vị trí đặc biệt có ảnh hưởng là
người đứng đầu của ủy ban điều hành United Way mà bao gồm hai CEO tương lai của
công ty máy tính thống trị thế giới. Như họ nói, thường không phải cái gì bạn
biết mà là mẹ bạn biết ai có thể cho bạn những hợp đồng tỷ đô.
Hoàn toàn không phải là một trong những người mạo hiểm vĩ đại
của thế giới, Bill Gates chính xác hơn có thể được coi là một trong người làm
giảm nhẹ rủi ro vĩ đại nhất thế giới. Và ở đó, anh ta không cô đơn. Sự kiện đơn
giản là bất kỳ ai cũng sợ mạo hiểm ở mức độ nào đó, bao gồm tất cả những mà tôi
đã phỏng vấn cho cuốn sách này. Đó là bản tính con người. Nhưng sự kiện xa hơn
là Cánh Cửa Số 3, đó là một huyền thoại, cho dù chúng ta đang nói về huyền thoại
Bill Gates hay các huyền thoại mà chúng ta kể riêng cho nhau nghe.
Bạn không nhất thiết phải can đảm để thay đổi mạnh mẽ cuộc đời
bạn. Sự thay đổi không xuất phát từ sự can đảm thuần túy. Nó "lóe" lên
từ một chuỗi các sự kiện hình thành sự va chạm và kinh nghiệm, cả hai điều đó
giúp tạo ra những rủi ro bất đối xứng. Qua sự lóe lên, cơ hội có lợi được xác
nhận khi rủi ro bất lợi được giảm nhẹ. Cuối cùng, bước nhảy, khi nó tới, không
phải là một niềm tin mà là kinh nghiệm, thậm chí sự an ủi, cũng giống như trường
hợp của Gates.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét