Hiển thị các bài đăng có nhãn Giai cấp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giai cấp. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 7 tháng 5, 2017

Tìm báo chí cho người lao động?

Tìm báo chí cho người lao động? Có bạn sinh viên đặt câu hỏi đó, thì tôi bình luận vài ý.

1) Báo chi trên mạng hầu hết là do doanh nghiệp tài trợ, và báo chí đó gọi là báo chí tư sản. Bạn cứ nhìn báo mà có mấy logo quảng cáo, thì rõ ràng là phải nhận tiền từ hãng quảng cáo. Tuy nhiên, điều tra được nguồn tài chính họ nhận được là khó khăn với đa số, đôi khi báo chí nhận tiền tấn ở góc khuất đằng sau, chứ tiền quảng cáo có khi không phải là nhiều nhất. Vì chỉ cần biết anh nhận tiền của ai, là có thể biết anh có tư tưởng thế nào rồi.

2) Báo chí tư sản thì không bảo vệ lợi ích của người lao động. Nhưng ta phải hiểu vấn đề này một cách thực tiễn, chứ không phải lý thuyết trừu tượng vô vị.

Báo chí đó vẫn phải bàn những cái độc giả quan tâm, nhưng lại bàn làm sao không ảnh hưởng tới lợi ích của giai cấp tư sản.

3) Độc giả của báo chí mạng là ai? Chủ yếu là giai cấp tiểu tư sản, do điều kiện làm việc nên họ thường xuyên phải lên mạng để cập nhật thông tin, thậm chí làm ăn buôn bán nhờ internet.

4) Độc giả tiểu tư sản cũng phải lao động để kiếm sống, nhưng lao động đó không phải lao động để sản xuất ra giá trị thặng dư như công nhân, mà gắn bó chặt chẽ với tư bản. Nên họ vừa mang trong mình tư tưởng của tư bản, vừa lại muốn thông cảm với nỗi đau khổ của công nhân.

5) Vấn đề cũng là ở đây: khi tiểu tư sản muốn gắn chặt với tư bản, thì họ cũng sẽ không muốn rời nó, chống lại tư bản. Vừa thông cảm với công nhân, vừa không muốn chống lại tư bản. Chính điều đó sản sinh ra thái độ chính trị mập mờ, bấp bênh, mà tôi hay nói bằng cụm từ: sự lãng mạn tiểu tư sản, hay ảo tưởng lãng mạn.

6) Sự bấp bênh tư tưởng dẫn tới họ: vừa muốn có CNXH (hiểu rất mơ hồ theo kiểu, cái gì cũng phải miễn phí, ít lao động mà lại được hưởng thật nhiều), nhưng lại vừa muốn không phải đấu tranh cho CNXH. Lực lượng cách mạng luôn là công nhân và nông dân, nhưng tiểu tư sản lại không muốn làm cách mạng như công nhân và nông dân, nhưng lại muốn đứng lên đầu họ, giày xéo họ, coi họ là tham lam, ngu dốt, là đần độn, họ chỉ muốn hưởng thành quả cách mạng do công nhân và nông dân đổ máu làm ra, nhưng lại sợ phải trực tiếp bắt tay vào làm.

7) Báo chí tư sản hiểu rõ nhu cầu của độc giả tiểu tư sản. Họ cũng đưa tin về người lao động, về đau khổ của người lao động. Nhưng họ chỉ khai thác cái đau khổ thôi, để lấy nước mắt của giai cấp tiểu tư sản. Thế nên không ngạc nhiên gì khi các độc giả tiểu tư sản đọc tý thông tin đã rớt hết nước mắt, ướt hết cả khăn mùi soa.

Nhưng cái mà báo chí tư sản không dám đụng tới, đó là: làm thế nào để thay đổi tình hình, sao cho toàn dân có lợi. Bởi làm thế thì khác gì tự sát. Chỉ có bị điên, bị thần kinh mà giai cấp tư sản lại nêu các phương pháp để người lao động đấu tranh, gây ra tụt giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Ví dụ các điển hình đấu tranh của công đoàn chống lại sự lạm dụng của doanh nghiệp, thì báo chí doanh nghiệp có điên mới đăng. Và độc giả tiểu tư sản cũng không thể nào biết được là có những con người như thế, vẫn đấu tranh hàng ngày cho quyền lợi của người lao động.

8) Ví dụ báo chí vô sản, báo chí của người lao động.
- Báo nhân dân. Bạn vào đó tìm đọc sẽ thấy rất nhiều thông tin về người lao động, cách làm giàu, cách thoát nghèo. Cây trồng làm giàu. Vật nuôi làm giàu v.v. Rồi kinh nghiệm quản lý khu dân cư.

http://nhandan.com.vn/kinhte/item/32797402-cay-thoat-ngheo-tren-vung-dat-%E2%80%9Ckhat%E2%80%9D-ninh-thuan.html Đây là bài báo về cây thoát nghèo ở Ninh Thuận.
- Báo xây dựng Đảng. Ví dụ mục Dân với Đảng nêu rất nhiều mô hình, sáng kiến kinh nghiệm của người dân. http://xaydungdang.org.vn/Home/Dan-voi-dang.aspx
- Ngoài ra có các blogger nữa, như cunom.blogspot.com, các FB như của anh NM Hùng v.v.
(cái này nên lưu ý: người vô sản có rất ít điều kiện kinh tế, vì thế truyền thông vô sản sẽ phải diễn ra theo kiểu, có gì dùng nấy, chứ không phải lúc nào cũng có một trang web thật hoành tráng với hàng triệu lượt xem như độc giả tiểu tư sản hay tưởng tượng)

9) Kết luận: Bạn có thể nhận biết tính giai cấp của báo chí thông qua cách mà nó xử lý vụ việc. Thông qua cách nó đề xuất để giải quyết vụ việc.

Nên nhớ rằng: bàn bao nhiêu thì bàn, cuối cùng thì cũng phải giải quyết công việc. Giải quyết công việc đem lại lợi ích cho ai, thì báo chí đó bảo vệ người đó. Nói không quan trọng bằng làm.

Khi đó, bạn sẽ thấy, Đảng cộng sản thực sự bảo vệ người lao động, và trung thành tuyệt đối với giai cấp lao động Việt Nam.

Tài liệu tham khảo chính của bài viết: Một vài ghi chép về đấu tranh giai cấp hiện nay ở Việt Nam.

Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2017

Các nguyên lý thống nhất về vấn đề phụ nữ


Sau đây là bản dịch Vấn đề phụ nữ trong tập bài viết Các nguyên lý thống nhất của Ủy ban cho một Đảng vô sản, một nhóm những người cộng sản Marxist-Leninist ở San Diego, Hoa Kỳ, viết năm 1977. Những tập bài viết này có thể coi là tổng kết kinh nghiệm của những người cộng sản Hoa Kỳ từ thực tiễn đấu tranh của giai cấp vô sản Hoa Kỳ. Ở Việt Nam ta, vấn đề giải phóng phụ nữ có phần thuận lợi hơn so với các nước chưa thiết lập được chính quyền vô sản, ví dụ, ta có thể tham khảo cuốn sách Đánh giá chính sách bình đẳng giới dựa trên bằng chứng của TS. Võ Thị Mai để thấy rõ hơn về chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề công bằng giới. Tuy nhiên, theo quan sát cá nhân của tôi, nhiều phụ nữ Việt Nam chưa biết và chưa nắm được vai trò của họ đối với cách mạng Việt Nam, vì vậy cần thiết có những bài viết ngắn gọn về những vấn đề này.

1) Nguồn gốc sự thống trị của nam giới: Về mặt lịch sử, nguồn gốc của việc hình thành và củng cố sự thống trị của nam giới được tìm thấy trong sự xuất hiện của chế độ tư hữu và xã hội có giai cấp.

Trước xã hội có giai cấp với nền tảng dựa trên tư hữu, đàn ông và đàn bà cùng chia sẻ đều nhau sản phẩm xã hội, mặc dù có sự phân công lao động theo giới tính, và mọi người chia sẻ thành quả lao động của họ. Trong phần lớn các xã hội, phụ nữ phụ trách việc chuẩn bị thức ăn và quần áo, hái lượm hoa quả, rau củ, là nguồn cung cấp quan trọng và đều đặn nhất cho thị tộc. Mặt khác, đàn ông chủ yếu săn bắn, đánh cá và chiến đấu.

Thời gian trôi qua, việc thu lượm thức ăn phát triển thành công việc đồng áng và được thực hiện chủ yếu bởi phụ nữ. Tương tự, săn bắn phát triển thành chăn nuôi gia súc, và trở thành trách nhiệm của đàn ông. Trong các xã hội nông nghiệp, do săn bắn suy tàn, đàn ông thay thế đàn bà trên các cánh đồng.

Chính sự phát triển của chăn nuôi đã biến đổi xã hội cộng sản nguyên thủy vốn dựa trên sự nghèo khổ, bởi vì nó cho phép sản xuất thặng dư vật chất trên nhu cầu của cộng đồng. Giai đoạn đầu của tư hữu xuất hiện vì chăn nuôi cần có sự giám sát tối thiểu, và cung cấp một lượng lớn thịt và sữa, dẫn tới sự tích lũy của cải đầu tiên. Do đàn ông phụ trách trông nom chăn nuôi, nên của cải dư thừa này theo thời gian trở thành một dạng tài sản tư hữu của họ. Điều này đánh dấu sự xuất hiện của xã hội có giai cấp và giai đoạn đầu của việc áp bức phụ nữ.

Của cái không còn là của chung của tập thể. Để đảm bảo của cải tư hữu này được chuyển cho con cái của người đàn ông, chế độ mẫu hệ bị đánh đổ, và chế độ phụ hệ được thiết lập. Thêm nữa, thiết chế hôn nhân cá thể (ít nhất đối với phụ nữ) được áp đặt để đảm bảo dòng dõi thừa kế rõ ràng. Các hình thức cộng đồng cho công việc nội trợ, sản xuất và chăm con đã biến mất, và đơn vị gia đình đơn độc ló ra như một đơn vị kinh tế của xã hội, với trách nhiệm cơ bản là duy trì các thành viên của nó.

"Công việc của phụ nữ" không còn là thành phần của sản xuất xã hội rộng lớn hơn, mà được chuyển thành dịch vụ tư nhân cho các gia đình cá thể. Bị loại bỏ khỏi sự sản xuất xã hội, phụ nữ trở thành nô lệ trong nhà, phụ thuộc kinh tế vào đàn ông. Như vậy, sự xuất hiện của tư hữu và xã hội có giai cấp tạo ra các cơ sở vật chất cho sự bất bình đẳng và sự áp bức nói riêng đối với phụ nữ.

2) Sự bóc lột đối với phụ nữ thuộc giai cấp lao động dưới chủ nghĩa tư bản: Dưới chủ nghĩa tư bản, cơ sở cho việc áp bức phụ nữ vẫn là địa vị nô lệ trong nhà của họ. Đối với những phụ nữ thuộc giai cấp lao động, đây cũng là một quan hệ bóc lột, nếu tính tới vai trò của họ trong sản xuất, tái sản xuất và duy trì hàng hóa sức lao động. Hệ quả của vai trò này là, phụ nữ thuộc giai cấp lao động bị bóc lột ít nhất 2 lần khi họ bán sức lao động của họ và tham gia vào sản xuất xã hội.

Phụ nữ vô sản có trách nhiệm sinh và nuôi dạy con cái cũng như chăm sóc đàn ông với tư cách là người lao động trong khu vực sản xuất xã hội. Công việc này cấu thành một dịch vụ cho giai cấp tư sản, mà lương của đàn ông được cho là một phần bù đắp. Do đó, phụ nữ không thể được xét là bị bóc lột và bị áp bức như một giai cấp riêng biệt; họ bị bóc lột chủ yếu bởi giai cấp tư sản một cách trực tiếp thông qua gia đình, và họ bị bóc lột ít nhất 2 lần tại nơi làm việc do vai trò của họ ở gia đình.

Hệ quả là, khái niệm được đặt ra trước đây bởi một vài lực lượng tiểu tư sản là lao động của phụ nữ ở trong nhà là không được trả công, là không đúng. Lý thuyết này giả sử lao động trong nhà của phụ nữ là sản xuất ra giá trị sử dụng, hơn là sự tạo ra một hàng hóa hoàn thiện với giá trị trao đổi, sức lao động. Giá trị trao đổi này là lương mà người đàn ông bán sức lao động của anh ta, tiền công nhằm để trả cho công việc của cả đàn ông và đàn bà. Thêm nữa, nhu cầu lương cho công việc nội trợ chỉ phục vụ cho việc thắt chặt người phụ nữ vào cảnh nô lệ trong nhà.

Dưới chủ nghĩa tư bản, lần đầu tiên kể từ các xã hội cộng đồng trước kia, phụ nữ được đưa vào trong sản xuất xã hội với số lượng lớn. Sự thay đổi này có ý nghĩa là phụ nữ bị bóc lột 2 lần, như nô lệ ở nhà cũng như nô lệ làm thuê.  Ở nơi làm việc, phụ nữ bị phân biệt đối xử thông qua hệ thống lương thấp hơn rõ ràng so với đàn ông trong các công việc tương đương, thiếu chăm sóc trẻ và nghỉ thai sản, hỗ trợ đào tạo. Họ bị dồn vào trong những nghề nghiệp đầy tớ, thâm niên thấp, địa vị thấp, lương thấp. Điều này giam phụ nữ ở trong mối quan hệ không ổn định với các tư liệu sản xuất, phục vụ mong muốn của các nhà tư bản nhằm sử dụng họ như đội quân lao động dự trữ để gây áp lực lên lương của toàn thể giai cấp công nhân.

Vai trò của gia đình dưới chủ nghĩa tư bản: Mô hình gia đình cá thể tư sản phụ vụ giai cấp tư sản như một công cụ để kiểm soát tài sản của họ. Trong các gia đình vô sản, mô hình đó phục vụ các nhà tư bản bằng cách giam các công nhân trong các đơn vị kinh tế cô lập. Với một vài người phụ thuộc vào một thu nhập, công nhân sẽ do dự hơn trong việc mạo hiểm công việc của họ trong đấu tranh cho lương cao hơn và điều kiện tốt hơn.

Cấu trúc gia đình giam người phụ nữ bị áp bức như những nô lệ trong nhà và như những người tham gia ngoài lề của sản xuất xã hội. Hệ quả là, cuộc sống của họ thường bị cô lập, cùng với sự tham gia phong trào xã hội, chính trị của họ bị giới hạn. Cả cấu trúc gia đình gia trưởng và vai trò của đàn ông, đàn bà trong đó đều kìm hãm sự phát triển của cả hai vợ chồng. Không có gì là bất bình thường nếu tìm thấy rằng, trong một cuộc đấu tranh, dù là ở cộng đồng hay nơi làm việc, người này ngăn cản sự tham gia của người kia. Cho dù đó là một phụ nữ không bằng lòng với công việc công đoàn của chồng, hay một người đàn ông từ chối cho phép vợ anh ta tham dự các cuộc mít-tinh, hay sự không sẵn lòng chăm con, cuộc đấu tranh bị suy yếu.

Không phải tất cả phụ nữ đều phù hợp với mô hình gia đình tư sản này. Khoảng 40% phụ nữ cần lao là đầu tàu trong việc nội trợ; nhiều phụ nữ cần lao hoặc là độc thân, hoặc là đồng tính. Điều này mang tới thêm thử thách gay go cho việc cố gắng sinh hoạt bằng lương được cho là "thu nhập phụ của gia đình".

Con cái: Một điều quan trọng cần nhận ra là giai cấp tư sản cũng áp bức cả con cái của giai cấp lao động. Chúng là đối tượng của giáo dục chống lại giai cấp lao động, bạo lực và tuyên truyền trên vô tuyến, sự đàn áp của cảnh sát, kỳ thị chủng tộc và rập khuôn vai trò giới tính. Trong hệ thống thứ bậc gia đình và xã hội nói chung, trẻ con được đối xử như tài sản tư hữu và là trách nhiệm của bố mẹ chúng, cùng với một số quyền ít ỏi của riêng chúng. Phần lớn thời gian trách nhiệm chăm con rơi lên đôi vai của người mẹ, người có thể chịu thêm gánh nặng từ công việc nội trợ và kiếm tiền.

Chủ nghĩa phân biệt giới tính: Sự áp bức phụ nữ không chỉ được phản ánh trong các vai trò gia đình của họ và tại nơi làm việc. Hệ tư tưởng nam giới thống trị, tính trọng nam khinh nữ của nam giới, được cổ vũ bởi các nhà tư bản  nhằm duy trì hệ thống đế quốc chủ nghĩa, lan tỏa khắp mọi khía cạnh của cuộc sống. Ví dụ, cơ thể của phụ nữ được dùng để bán một phạm vi vô hạn các sản phẩm. Hệ quả của sự suy thoái và đối tượng hóa tình dục (sexual objectification) là, phụ nữ thường xuyên là đối tượng của sự lạm dụng, gièm pha tâm lý và bằng lời nói, cũng như bạo lực nghiêm trọng như hiếp dâm, hành hung, và đánh vợ. Khi phụ nữ chống trả lại để bảo vệ bản thân họ, họ nói chung bị kiện vì điều đó.

Hệ tư tưởng phân biệt giới tính được sử dụng bởi giai cấp tư sản nhằm củng cố sự thống trị của nam giới. Nó khiến cho giai cấp bị chia rẽ bằng cách đưa cho đàn ông của giai cấp vô sản ai đó để họ cảm thấy họ là bề trên, và giam hãm phụ nữ của giai cấp vô sản trong sự cô lập, chia rẽ và bị động.

3) Cơ sở cho sự giải phóng: Cơ sở cơ bản cho sự giải phóng phụ nữ là:  1 - sự tham gia đầy đủ và bình đẳng vào quá trình sản xuất xã hội;  2 - mở rộng xã hội hóa công việc nội trợ và chăm sóc con cái tới mức độ lớn nhất có thẻ; 3 - đấu tranh tư tưởng chống lại thói trọng nam khinh nữ của đàn ông.

Thay đổi cơ bản này chỉ có thể xảy ra dưới sự chuyên chính của giai cấp vô sản, với sự sở hữu xã hội về các tư liệu sản xuất. Công việc nội trợ cá nhân trở thành một công nghiệp công cộng và sự chăm sóc trẻ con là trách nhiệm của xã hội. Đàn ông và đàn bà sẽ chia sẻ sự sản xuất xã hội này ngang bằng nhau. Các sự phụ thuộc kinh tế và các khía cạnh áp bức của gia đình sẽ tan biến, để lại con đường tự do cho các mối quan hệ lành mạnh, bình đẳng và yêu thương.

4) Đấu tranh cho giải phóng: Phụ nữ là một lực lượng dự bị mạnh mẽ của giai cấp vô sản trong đấu tranh cách mạng nhằm chiếm lấy quyền lực nhà nước. Phụ nữ đã chứng tỏ bản thân họ là một trong những người chiến đấu gan dạ nhất của giai cấp trong các cuộc đấu tranh và đình công ở nơi làm việc, và các cuộc đấu tranh cộng đồng xung quanh trường học, sự đàn áp của cảnh sát, nội trợ, chăm sóc con cái, chăm sóc y tế và hiếp dâm. Sẽ không có cuộc cách mạng nào mà lại thiếu sự lãnh đạo, sự tham gia và hỗ trợ trực tiếp của họ. Vì vậy, không một đảng cộng sản có thể đứng vững trên đôi chân nếu thiếu sự tuyển mộ rộng lớn cán bộ phụ nữ làm nòng cốt và khuyến khích họ trở thành lãnh đạo.

Trong quá trình cuộc đấu tranh cách mạng, những người Marxist-Leninist có một số lượng nhiệm vụ liên quan tới phụ nữ, bao gồm trong đó là sự hỗ trợ cho các cải cách pháp luật. Trong khi làm việc một cách nhất quán đối với các quyền dân chủ này cho phụ nữ, những người Marxist-Leninist phải giúp chứng tỏ rằng chúng không bao giờ có thể nào khác là những cải cách bộ phận mà thôi. Các cuộc đấu tranh khác của phụ nữ như các vấn đề về chăm sóc con cái, chăm sóc y tế, phá thai, và hiếp dâm cần sự hỗ trợ tích cực, tuy nhiên, do tính lịch sử của việc loại bỏ phụ nữ khỏi sản xuất, điều quan trọng phải nhớ rằng, đấu tranh xung quanh nơi làm việc và phân biệt công việc là chìa khóa cho giai cấp vô sản.

Cũng cần thiết rằng những người cộng sản tích cực động viên đàn ông và đàn bà thuộc giai cấp vô sản chia sẻ bình đẳng các nhiệm vụ nội trợ và chăm sóc con cái. Các tổ chức cả quần chúng và cộng sản cần phải lấy trách nhiệm tập thể cho chăm sóc trẻ con để cho phép các bố mẹ có thể tham gia toàn diện vào các tất cả các hoạt động. Sự chia sẻ này sẽ cho phép nhiều phụ nữ hơn trở nên tích cực trong quá trình cách mạng và cung cấp một công cụ đấu tranh chống tư tưởng trọng nam khinh nữ và sự thống trị của nam giới ở hiện tại, chứ không phải ở một tương lai xã hội chủ nghĩa xa xôi.

Trong thực tế, đặc biệt phải chú ý tới vai trò của gia đình. Những người cộng sản phải cố gắng thu hút toàn thể gia đình vào trong cuộc đấu tranh chính trị, để củng cố sự ràng buộc đấu tranh giữa đàn ông, đàn bà và trẻ con, cũng như đấu tranh chống lại mọi hình thức thống trị của nam giới ở bên trong.

Con cái của các công nhân phong trào thường xuyên bị bỏ bê giữa các công việc, mít-tinh và đấu tranh chính trị. Một vài đứa trẻ lớn lên với sự hận thù đối với phong trào cách mạng. Trẻ em là tương lai của chúng ta; chúng cần thời gian và sự chú ý của chúng ta để lớn lên và phát triển thành những con người có lương tâm. Chúng cần sự giúp đỡ trong việc kháng cự lại hệ tư tưởng tư sản mà chúng thường xuyên bị nhồi nhét ở trường học, tivi và bạn bè của chúng. Vì thế, những người cộng sản cần phải giữ lấy trách nhiệm tổ chức cho việc chăm sóc và phát triển trẻ em, đồng thời cũng nên nhận ra rằng trẻ con đem tới rất nhiều cho người lớn, rằng chăm sóc trẻ con không phải là một "gánh nặng" hay chỉ là "giữ trẻ hộ". Đó là một quá trình tích cực quan hệ qua lại giống như bất kỳ công việc chính trị nào khác. Trẻ con cần phải được coi như là những người đấu tranh tương lai, những người bây giờ đủ khả năng để giữ lấy trách nhiệm và thực hành quan điểm vô sản.

Một nhiệm vụ khác quan trọng đối với những người cộng sản là tiến hành các cuộc đấu tranh không thỏa hiệp chống lại sự trọng nam khinh nữ của đàn ông. Mọi thái độ và thói quen bắt nguồn từ hệ tư tưởng trọng nam khinh nữ của nam giới cần phải được đấu tranh mạnh mẽ chống lại, đặc biệt là trong các tổ chức cộng sản. Phụ nữ cần phải được coi như những người lãnh đạo, không chỉ trên vấn đề giải phóng phụ nữ, mà ở trong mọi lĩnh vực công việc cộng sản. Những người cộng sản, dù là đàn ông hay đàn bà, đều đại diện cho lợi ích của toàn thể giai cấp lao động, và không phải bất kỳ khu vực riêng đặc biệt nào của giai cấp. Lợi ích của phụ nữ không đến trước lợi của giai cấp mà gắn bó toàn thể với giai cấp. Những người cộng sản không đặt hệ tư tưởng của chủ nghĩa nữ quyền tư sản đối lập với tư tưởng trọng nam khinh nữ của đàn ông, mà là hệ tư tưởng Marx-Lênin, vì chỉ có chủ nghĩa Marx-Lênin mới có thể cung cấp lời giải cách mạng cho sự áp bức nói riêng đối với phụ nữ. Cách để thống nhất giai cấp lao động về vấn đề này là thu phục những người đàn ông của giai cấp lao động đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng phụ nữ và làm việc cùng nhau với phụ nữ để xóa bỏ sự áp bức nói riêng và sự bất bình đẳng đối với phụ nữ.

5) Phong trào quần chúng của phụ nữ: Phong trào Marxist-Leninist đã tạo ra một số lượng những sai lầm kiểu chủ nghĩa cơ hội cánh tả trong quan hệ với phong trào quần chúng của phụ nữ. Hệ quả là, mức độ hợp nhất của phong trào cộng sản và phong trào phụ nữ là tương đối ít. Rất thường xuyên, những người cộng sản khiển trách phong trào của phụ nữ là tiểu tư sản vô vọng và thụt lùi, và đã tiến hành để đảm bảo rằng nó vẫn thụt lùi bằng cách từ chối đưa cho phong trào sự lãnh đạo Marxist-Leninist.

Một nhiệm vụ quan trọng đối với những người cộng sản trong phong trào phụ nữ là mang quan điểm giai cấp lao động tới phong trào, mở rộng đặc trưng mặt trận thống nhất để đưa vào đó lượng lớn hơn các phụ nữ của giai cấp lao động, và để khuyến khích những phụ nữ này trở thành lãnh đạo. Công việc này là một phần nguyên vẹn của nhiệm vụ cốt yếu hợp nhất phong trào cộng sản và phong trào công nhân.

Trong các tổ chức phụ nữ quần chúng, những người cộng sản phải đưa ra các vấn đề tập trung vào việc bóc lột và áp bức đối với phụ nữ vô sản, đặc biệt là những ai tham gia vào sản xuất xã hội. Công nhân nữ trong sản xuất xã hội là tầng lớp cách mạng nhất của phong trào phụ nữ và công việc cộng sản phải được tập trung ở tầng lớp này.

Đến lượt, những người cộng sản phải đưa các vấn đề về áp bức phụ nữ tới tất cả các công việc chính trị khác, và cố gắng xây dựng sự hỗ trợ trong quần chúng cho sự giải phóng hoàn toàn phụ nữ. Sự giải phóng phụ nữ không chỉ là mối quan tâm của riêng phụ nữ; sự giải phóng phụ nữ là một phần nguyên vẹn của đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản và đồng minh của giai cấp.

6) Các tổ chức quần chúng và Đảng: Trong cuộc đấu tranh cho giải phóng phụ nữ, có một nhu cầu thiết thực và cấp bách cho các tổ chức phụ nữ quần chúng. Tất cả các giai tầng của phụ nữ với sự loại bỏ giai cấp tư sản đều cần phải tham gia tích cực vào mặt trận thống nhất rộng lớn, tập trung vào vấn đề áp bức phụ nữ. Trong các tổ chức phụ nữ quần chúng, phụ nữ có thể thu thập sức mạnh của mỗi người, phát triển lãnh đạo và đảm bảo rằng quần chúng nhân dân được giáo dục về sự áp bức phụ nữ và tham gia vào giải phóng phụ nữ.

Đồng thời, sự giải phóng phụ nữ không thể được nhìn tách rời với đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản. Thiếu sự lãnh đạo của đội tiền phong của giai cấp vô sản, tức đảng cộng sản của giai cấp, phong trào phụ nữ sẽ phát triển một cách tự phát theo hướng duy trì sự thống trị của giai cấp tư sản. Những người Marxist-Leninist cần phải liên kết chặt chẽ các tổ chức phụ nữ quần chúng với phong trào cộng sản và đảm bảo rằng một khi Đảng được thành lập, Đảng sẽ ở vị trí cung cấp sự lãnh đạo cho các tổ chức này trong cuộc đấu tranh cách mạng quần chúng của họ.


Trong khi các tổ chức phụ nữ quần chúng là đội quân dự bị giá trị của giai cấp vô sản, không một cuộc họp kín riêng biệt của phụ nữ trong Đảng Marxist-Leninist là được phép hay cần thiết. Trong việc tán thành lập trường, quan điểm và phương pháp của giai cấp vô sản, những người cộng sản cả nam giới và nữ giới đều bình đẳng đủ khả năng và trách nhiệm trong việc tiến hành đấu tranh cho giải phóng phụ nữ. 

Sự bóp méo lịch sử trong các chương trình học ở Pháp



Sau đây là bản dịch bài viết La falsification de l'histoire dans les programmes scolaires của Venceslas đăng ngày 30/9/2014. Bài viết có nhiều chi tiết phong phú, cho phép ta hình dung được cách thức giáo dục phương Tây vận hành. Trong bài viết chỉ có một ý nhỏ chưa thật sự tốt là việc xác định một nước có thực sự là theo chế độ cộng sản hay không căn cứ vào các đặc trưng của xã hội cộng sản được chỉ ra trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản 1848 do Marx và Engels soạn. Điều đó là khập khiễng vì một xã hội cộng sản đúng nghĩa thì chưa tồn tại, tất cả các nước XHCN hiện nay đều đang ở tình trạng quá độ mà thôi.

Trong các xã hội có giai cấp, giáo dục là một công cụ phục vụ sự thống trị của một giai cấp. Xã hội tư bản chủ nghĩa không thoát khỏi quy luật này và thậm chí khuếch đại hiện tượng lên bằng cách lý tính hóa điều đó. Hệ thống trường học có chức năng đào tạo những người lao động tương lai ngoan ngoãn và có ích cho các lợi ích của giai cấp tư sản. Để làm điều đó, các cơ sở giáo dục tìm cách tẩy não các học sinh ít tuổi nhưng cũng luyện tập cho các cơ thể trẻ tuổi này để họ có thể thích ứng với đòi hỏi của lao động làm thuê. Trường học do đó là một thiết chế kỷ luật ở dưới mọi góc độ. Không bao giờ nó cho phép sự trưởng thành cá nhân và sự phát triển của óc phê phán1. Ví dụ việc dạy học lịch sử-địa lý-giáo dục công dân ở THCS và THPT cho thấy ở mức độ nào hệ thống giáo dục tư sản là bộ phận cốt lõi của hệ tư tưởng thống trị. Các chương trình lịch sử đã luôn luôn được xây dựng cho và bởi sự tuyên truyền của nhà nước2. Cấu trúc của chúng nhằm cắm chặt "hiện thực" của trật tự xã hội tư sản. Thật vậy, việc dạy học môn này tham gia vào việc bóp méo sự thật trong quá khứ của các xã hội loài người. Bằng cách đó, các thế hệ công nhân trẻ được duy trì trong một môi trường dốt nát có lợi cho việc làm biến mất óc phê phán. Vì thế bài báo này được viết nhằm tố cáo tuyên truyền của nhà nước tư sản trong việc đào tạo các công nhân tương lai.

Tìm kiếm xã hội cộng sản nguyên thủy

Với tư cách là tri thức học thuật, lịch sử bắt đầu với sự xuất hiện của chữ viết vào quãng giữa thiên niên kỷ thứ IV trước công nguyên. Theo điều này, các tri thức về các xã hội trong quá khứ trong chương trình học bắt đầu ở quãng thời gian này, bởi vì chương lịch sử đầu tiên ở lớp 6 bàn về nền văn minh Ai Cập và Lưỡng Hà. Các xã hội này đã đạt tới một trình độ phát triển đặc biệt:
- Chúng đều là xã hội không bình đẳng và được phân chia thành các giai cấp xã hội.
- Nhà nước đã đạt tới một trình độ phức tạp nhất đinh.
- Đẳng cấp cao hơn hẳn của nhà vua và các thầy tu với tư cách là biểu tượng chính trị và tư tưởng được khắc sâu mạnh mẽ.

Nếu chúng ta theo cái lý của chương trình học, các xã hội loài người ngay từ ban đầu đã được tổ chức theo cách này. Không một lý do rõ ràng, họ cung cấp cho học sinh nhỏ tuổi suy nghĩ rằng nước Ai Cập của các kim tự tháp hay các thành phố Ur hay Babylone của Lưỡng Hà là những dấu vết đầu tiên của cuộc sống loài người trong xã hội. Ấy vậy mà loài của chúng ta cổ xưa cũng phải vài trăm nghìn năm và sự lựa chọn cắt xén gần như toàn bộ không phải là ngẫu nhiên. Bằng việc coi Ai Cập của các pha-ra-ông  và các thành phố của Lưỡng Hà làm điểm xuất phát, giai cấp tư sản mong ước nện chặt đặc tính quyết định luận của các bất bình đẳng xã hội. Đó là cắm chặt ý tưởng rằng xã hội ngay từ thời xa xưa đã được phân chia thành giai cấp thống trị và bị thống trị. Cách quan niệm bảo thủ một cách sâu sắc này có chức năng là hợp lý hóa trật tự xã hội TBCN và ghim chặt điều đó trong óc của các học sinh ít tuổi. Để đơn giản hóa, sau đây là thông điệp mà nhà nước yêu cầu các giáo viên chuyển tải tới học sinh: "sự bất bình đẳng, thống trị, nhà nước, ông chủ đã luôn luôn tồn tại và điều đó là không thể nào khác ở tương lai. Hay nói cách khác, con người một cách tự nhiên được đem tới thống trị lẫn nhau, giữa người này với người kia."

Tuy nhiên, các thành quả của khoa học và của chủ nghĩa Marx cung cấp một cách nhìn hoàn toàn khác về thời kỳ đầu của loài người. Thật vậy, "trong suốt phần lớn nhất của lịch sử loài người, trong suốt hàng trăm nghìn năm, có thể hàng triệu năm, loài người đã sống trong một xã hội không giai cấp, tạo thành từ các cộng đồng mà ở đó của cải cốt yếu được chia sẻ, không có trao đổi, hay tiền bạc tham dự; một xã hội được tổ chức không phải do vua hay thầy tu, quý tộc, hay bộ máy nhà nước mà bởi hội đồng bộ lạc.  Đó chính là loại xã hội mà những người marxist đề cập khi họ nói về "chế độ cộng sản nguyên thủy"."3 Cách nhìn nhận này gây bối rối sâu sắc giai cấp tư sản. Cũng như vậy, ở trường học hay ở nơi khác, xã hội cộng sản nguyên thủy bị phủ nhận hoặc giảm nhẹ nhằm mục đích khẳng định rằng chủ nghĩa cộng sản vẫn chỉ là một lý tưởng không thể đạt được trong thực tế. Không phải ca ngợi4, các xã hội này cho chúng ta những chỉ dẫn ngược lại. Cụ thể là con người đủ khả năng để đặt tình đoàn kết, sự tương trợ lẫn nhau và sự chia sẻ ở trung tâm của tổ chức xã hội.

Trong việc truy tìm sự thật, chủ nghĩa Marx đã cho phép hiểu rằng sự xuất hiện của bóc lột là kết quả của một quá trình lịch sử. Bằng cách phủ nhận dòng chảy lịch sử, giai cấp tư sản bóp méo sự tiến hóa của loài người. Nó không kích thích các thế hệ trẻ tự đặt câu hỏi về nguồn gốc loài của chúng ta. Giai cấp thống trị hoàn toàn có ý thức rằng nếu không hiểu gì về quá khứ của chúng ta, rất khó có thể thấy được các khả năng của một xã hội tương lai. Cũng như vậy, giai cấp tư sản làm mọi cách để bóp nghẹt sự tò mò và óc phê phán của các học sinh về các vấn đề này.

Sự chấm dứt của đấu tranh giai cấp

Đối với những người marxist, "lịch sử của mọi xã hội cho tới ngày nay là lịch sử của đấu tranh giai cấp."5 Thật vậy, từ nhiều thiên niên kỷ, sự đối kháng giai cấp đã tạo thành "động cơ của lịch sử", sự năng động và sự vận động của nó. Giai cấp áp bức và bị áp bức dẫn dắt "cuộc đấu tranh liên tục, luôn kết thúc bằng hoặc một sự biến đổi cách mạng của toàn xã hội, hoặc là sự phá hủy thường thấy của các giai cấp đấu tranh."6 Đương nhiên, hệ thống giáo dục tư sản phủ định hoàn toàn quan điểm này. Bằng chứng là, chỗ dành cho các cuộc nổi dậy hay phong trào lật đổ trật tự xã hội trong toàn bộ thời gian học gần như là không tồn tại trong chương trình và sách giáo khoa. Sự nổi dậy của nô lệ trong xã hội cổ đại, phong trào dị giáo hay nổi dậy của nông dân trong các xã hội phong kiến, cuộc đấu tranh của phong trào công nhân từ thế kỷ 19 còn xa mới tạo thành trung tâm của các chương được đề cập trong năm học. Nếu không, các sự kiện này được xử lý một cách xiên xẹo bằng cách đặt vấn đề gây sai lệch hoàn toàn ý nghĩa. Ví dụ Công xã Paris 1871. Vấn đề này được đề cập ở lớp 8 trong khuôn khổ chương "Sự tiến hóa chính trị của nước Pháp (1815-1914)". Mục đích là để chứng minh cách mà nền Cộng hòa được thừa nhận ở Pháp kể từ năm 1870. Một là, chỗ dành cho Công xã Paris là rất mờ nhạt. Hai là, các nguyên nhân của sự kiện được trình bày như một sự phản ứng đối với trật tự bonapartist cũ. Sau đây là cách trình bày các sự kiện trong một cuốn sách giáo khoa (coll. Belin): "Nền Cộng hòa được tuyên bố ở Paris ngày 4/9/1870 tỏ ra không chắc chắn lắm bởi vì Quốc hội được bầu năm 1871 đa số  là những người ủng hộ nhà vua. Nhân dân Paris lo sợ sự phục hồi nền quân chủ và muốn tiếp tục chiến đấu chống Phổ, đã nổi dậy trong Công xã Paris: Công xã đã bị dìm trong bể máu." Diễn giải xem nào, những người công nhân Paris chỉ nổi dậy chống lại chế độ quân chủ và kẻ xâm lược Phổ (để bảo vệ nền Cộng hòa và Tổ quốc) nhưng trước sự phát triển rộng và các triển vọng cách mạng, Công xã đã phải chịu đựng "bị dìm trong bể máu." Nếu giai cấp tư sản không thể che đậy được giai đoạn này của phong trào cách mạng cũng như sự đàn áp tàn bạo của nó, nó có thể làm sai lệch ý nghĩa. Trong các chương trình, Công xã được tách khỏi phong trào cách mạng quốc tế. Các chương trình đặt lên trước hết là các tiến bộ xã hội và dân chủ, sản sinh từ phong trào này. Công xã được trình bày như là một phòng thí nghiệm có ích cho việc xây dựng nền Cộng hòa. Nhưng Công xã Paris không chỉ đơn thuần là phong trào yêu nước, cũng không phải là cuộc đấu tranh cho sự tự do cộng hòa. Trên hết, đó là sự biểu hiện vai trò của giai cấp vô sản như là lực lượng duy nhất đánh đổ chủ nghĩa tư bản7.Giai cấp tư sản hoàn toàn có ý thức về chuyện này và cố gắng giấu giếm nó khỏi các công nhân tương lai.

Điều tương tự với làn sóng cách mạng những năm 1920 được đề cập ở lớp 9. Cách mạng tháng Mười 1917 xuất hiện trong chương trình và thậm chí nằm trong danh sách các cột mốc lịch sử mà học sinh phải nhớ trong quá trình học tập. Nhưng thực ra họ ghi nhớ điều gì? Đó là, sự kiện này là "là một cuộc đảo chính được tổ chức bởi Lênin, người đứng đầu đảng Bôn-sê-vích"8 hoặc "một cuộc cách mạng Bôn-sê-vích được lãnh đạo bởi Lênin"9. Lại một lần nữa ở đó, giai cấp tư sản phủ nhận sức mạnh cách mạng của giai cấp công nhân và trình bày Cách mạng tháng Mười như là một tác phẩm của Đảng và của một người, trong khi nó là sự thực hiện của giai cấp công nhân.

Thêm nữa, các chương trình bảo dưỡng sự dối trá vĩ đại khi đồng nhất chủ nghĩa Stalin với chủ nghĩa cộng sản. Cho tới năm 2013, sự giả mạo này được vạch rõ trong các chỉ thị chính thức. Liên Xô đã được trình bày như là "một chế độ cộng sản, thành lập bởi Lênin, người muốn tạo ra một xã hội không giai cấp, và xuất khẩu cách mạng (Quốc tế III)"10. Với sự sắp xếp chương trình lớp 9 vào khai giảng năm 2013, chỉ thị này không còn được viết "rõ ràng" nữa nhưng sự đồng nhất vẫn còn hiện diện đặc biệt trong các cuốn sách giáo khoa: "Sau khi Lênin qua đời năm 1924, Joseph Stalin tự cho là người kế thừa duy nhất. Một mình đứng trên quyền từ năm 1929, ông quyết định tăng tốc thực hiện chủ nghĩa cộng sản ở Liên Xô và sự biến đổi nền kinh tế."11 Vậy mà, các đặc trưng của xã hội kiểu Stalin không có gì liên quan tới quan điểm (vẫn còn tính chất thời sự) được phát biểu trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản năm 1848. Bộ mặt thực sự của Liên Xô là chủ nghĩa tư bản nhà nước trong đó giai cấp tư sản mới tiếp tục bóc lột giai cấp vô sản Nga. Tư liệu sản xuất đã không phải là của chung và nhà nước không hề bị phá bỏ, mà ngược lại, được sử dụng tới mức độ cao nhất.

Trình bày chủ nghĩa cộng sản như là một xã hội đã xảy ra trong thế kỷ 20 ở Liên Xô, Cuba hay Trung Quốc là một cách lừa bịp rất có hiệu quả thậm chí nếu giai cấp tư sản cho rằng tốt hơn là không lấy chủ đề này ra để tranh luận. Sự dối trá không thể chịu đựng được này, gây ra một sự lẫn lẫn lộn lớn ở giai cấp công nhân, cần phải bị tố cáo và trừng phạt, vì mục tiêu cuối cùng của giai cấp vô sản: sự thống nhất của xã hội loài người.

Nhưng vũ khí hiệu quả nhất chống lại cuộc đấu tranh giai cấp nằm ở tuyên truyền dân chủ và tư cách công dân. Các chương trình học giáo dục công dân ở trường học nhằm mục đích găm chặt "đạo đức" của nền dân chủ: "bình đẳng trong nền cộng hòa có tính quyết định cho việc bù đắp và sửa chữa sự bất bình đẳng. Các đạo luật bảo vệ tài sản và con người, và sửa chữa môi trường cuộc sống trong xã hội."12 Hay sự cần thiết là một công dân có trách nhiệm, tồn trọng quyền và nghĩa vụ để đảm bảo sự hài hòa xã hội. Vai trò của nhà nước bị hiểu sai lệch đi bởi vì người ta trình bày nó như là một thực thể "tổ chức sự bảo vệ chống lại các rủi ro lớn và đảm bảo sự an toàn cho lãnh thổ."13 Điều người ta che giấu học sinh, đó là, nhà nước là một công cụ duy trì trật tự xã hội, cho phép giai cấp thống trị đảm bảo lợi ích của chúng. Ở lớp 8, một chương được dành cho việc "thực thi quyền tự do ở Pháp." Lại ở đó, giai cấp tư sản chỉ ra toàn bộ sự bỉ ổi và sự giả tạo của chúng bởi vì chương trình tập trung vào tự do ý kiến và tín ngưỡng (tôn giáo, thế tục v.v.) nhưng sự bóc lột giai cấp công nhân và sự tha hóa của giai cấp tư sản đương bị bỏ qua trong im lặng. Chừng đó sự thần bí tẩy não các học sinh và nghiền nát óc phê phán của họ. Đối với Jules Ferry, việc dạy giáo dục công dân có nhiệm vụ đảm bảo đóng khung tư tưởng con cái của công nhân: "Không, chắc chắn rằng nhà nước không phải là tiến sĩ toán học, không phải tiến sĩ văn chương hay hóa học. [...] Nếu nó trả lương cho các thầy giáo, điều đó không có nghĩa là để mở rộng  chân lý khoa học; không phải là vì nó muốn chăm sóc giáo dục: nó chăm sóc giáo dục là để duy trì ở đó một đạo đức nhà nước nhất định, một học thuyết nhà nước nhất định, không thể thiếu được cho sự bảo tồn của nó. [...] Vậy thì đừng có sợ thực thi sự truyền bà này về khoa học, tính thẳng thắn và chân lý, cần phải dứt khoát đối lập với sự truyên bá này, với phép tu từ bạo lực và giả dối này, [...] với sự không tưởng đầy bạo lực và phản động mà họ gọi là chiến tranh giai cấp!" Giai cấp tư sản ngày nay ít lộ liễu như vậy khi họ phát biểu chính thức các kế hoạch của họ về giáo dục.  Tuy vậy, sự thần bí dân chủ và tư cách công dân hoàn thiện hơn rất nhiều so với thời của Jules Ferry. Các chương trình giáo dục công dân được soạn công phu để cho học sinh có thể ngốn hết các mưu mẹo che giấu cuộc đấu tranh giai cấp. Sự bổ sung của các chương trình giáo dục công dân  và lịch sử nhằm mục đích phủ định bản chất của giai cấp tư sản với tư cách giai cấp bóc lột. Với giai cấp tư sản, chủ nghĩa tư bản đã được thừa nhận và nền dân chủ đại diện tạo nên hình thức hoàn hảo nhất của tổ chức xã hội. Rốt cuộc, lịch sử đã được hoàn thành, và tốt hơn cả là khắc sâu điều này vào trí óc của học sinh. Không cần thiết phải nhìn nhận các quan điểm khác, xã hội TBCN và dân chủ là hoàn hảo nhất mà con người có thể xây dựng. Đứng trước những lời dối trá này, kinh nghiệm và thành quả lý luận từ phong trào công nhân cho phép nói ra sự thật. Không! Xã hội không tự tổ chức như một tổng các cá thể "tự do và bình đẳng" mà là các giai cấp đối kháng với các lợi ích khác nhau. Khắp nơi trên thế giới, kể cả các nước dân chủ, công nhân luôn bị bóc lột và ăn hiếp. Một cảm xúc ghê tởm sâu sắc dồn hộ tới xem xét các quyền ngoại lệ và sự tham ô của các ông chủ hoặc các nhà chính trị. Mặt khác, như tôi đã có thể trải nghiệm, học sinh không bị lừa bịp. Một vài trong số họ không ngần ngại tố cáo sự tham nhũng và bất bình đẳng khi người ta trình bày cho họ xã hội lý tưởng mà chúng ta được cho là đang sống trong đó. Bất kỳ ai cũng nghĩ rằng thực tế không lừa bịp những bộ óc trẻ tuổi.

Sự tuyên truyền yêu nước

Ngay từ những thời gian đầu tiên của trường học cộng hòa, chủ nghĩa yêu nước và "tiểu thuyết dân tộc" đã chiếm một vị trí trung tâm trong chương trình học. Công xã Paris đã làm rung chuyển giai cấp tư sản, buộc họ phản ứng bằng cách khuếch trương áo giáp sắt tư tưởng lên giai cấp công nhân. Chúng muốn phá tan chủ nghĩa quốc tế mà giai cấp vô sản Pháp đã tỏ rõ năm 1871. Với bộ trưởng giáo dục Jules Simon, một trong những bài học "thử thách" mà nước Pháp vừa chịu đựng là "nước Pháp cần phải biết nước Pháp nhiều như có thể biết các nước khác"14. Có lẽ hơn hẳn các môn khác, lịch sử và địa lý sở hữu một vai trò tư tưởng cốt lõi trong hệ thống giáo dục. Ngay đầu thế kỷ 20, việc dạy môn lịch sử được miễn ở mọi cấp độ học.  Chủ nghĩa Sô-vanh, chủ nghĩa dân tộc, và chủ nghĩa quân phiệt đầu độc đầu óc các công nhân tương lai. Giữa các năm 1871 và 1914, việc dạy lịch sử được sắp xếp bởi một tinh thần phục thù nước Phổ sau thất bại Sedan tháng 9/1870. Trên các bản đổ nước Pháp được treo ở trong các lớp học, lãnh thổ Alsace và Lorraine (đã mất năm 1870 vào tay nước Phổ) được định ranh giới bởi các đường chấm chấm để loại bỏ chúng đi nhưng được tô màu tím để người ta tìm thấy hình lục giác. Dần dần, giai cấp tư sản sử dụng trường học để đẩy giai cấp công nhân vào quân đội trong một cuộc xung đột thế giới không thể tránh được và chia rẽ giai cấp này trên bản đồ thế giới. Nó tiêm nhiễm vào trong óc lý tưởng dân tộc trộn lẫn với sức nóng chiến tranh và tôn giáo như là Emile Zola tố cáo trong tiểu thuyết "Sự thật" của ông năm 1903 khi ông đưa lên sân khấu một thầy giáo và lớp học của ông ta:"Bốn cái bảng, được tô vẽ mạnh mẽ, treo trên tường, đang làm cho ông ta tức tối: thánh Geneviève giải phóng Paris, Jeanne d'Arc lắng nghe lời ông ý, thánh Louis chữa bệnh cho người ốm, Napoléon cưỡi ngựa tới một chiến trường. Luôn luôn là điều kỳ diệu và sức mạnh, luôn luôn là lời dối trá tôn giáo và bạo lực quân sự được đem là ví dụ, gieo hạt giống trong bộ óc những đứa trẻ."

Đối với những nước Đồng minh, chiến thắng năm 1918 cho phép ngăn chặn nhiệt tình cách mạng của giai cấp công nhân. Và để cho điều đó, giai cấp tư sản bày ra toàn bộ sự bỉ ổi của nó nhằm "hàn gắn dân tộc" bằng cách pha trộn lòng trắc ẩn trước những cái chết, sự tự hào bảo vệ Tổ quốc và sự cổ vũ cho chung sống hòa bình. Nhà nước thiết lập rất sớm lên học sinh sự tưởng niệm bắt buộc đối với các công trình tưởng niệm người đã chết trong chiến tranh. Trong sách giáo khoa Lavisse năm 1934, chiến tranh được trình bày như là một định mệnh đối với giai cấp tư sản.: "từ năm 1914 tới 1918, người Pháp một lần nữa bị ép buộc phải tiến hành chiến tranh ở Đức giống như năm 1870." Chủ nghĩa yêu nước không biến mất khỏi chương trình học cho tới ngày hôm nay nhưng nó giữ một mức độ xảo quyệt hơn, bởi vì tình cảm yêu nước không được như vậy. Từ bây giờ, các chương trình học trình bày lịch sử nước Pháp ở thế kỷ 19 và 20 như là sự đăng quang và thần thánh hóa nền dân chủ và sự "tự do" từ 1789. Nó là sự bỏ quên rằng trong xã hội TBCN, tự do duy nhất của giai cấp công nhân là bán sức lao động của họ. Mặt khác, để hợp lý hóa các thiết chế toàn cầu mới (Liên minh châu Âu, Liên hợp quốc), nhà nước đã sáng tạo ra khái niệm tư cách công dân châu Âu, thậm chí tư cách công dân toàn cầu. Lại ở đó, ta thấy cách làm chệch hướng vai trò thực sự của các thiết chế của họ, chỉ dùng để mang tới tý chút trật tự cho một đống hỗn độn đang lan rộng. Ví dụ, các học sinh được xem như là tán đồng với ý tưởng cho rằng "sự thành lập Liên hợp quốc đáp ứng lại khát vọng duy trì hòa bình."15 Nếu giai cấp tư sản tra lắp hệ tư tưởng của nó, sự thật vẫn là chủ nghĩa yêu nước vẫn là vắc-xin mạnh mẽ đối mặt với sự tiến triển của chủ nghĩa quốc tế trong hàng ngũ giai cấp công nhân.

Sự phát triển ý thức giai cấp để đáp lại hệ tư tưởng của giai cấp tư sản

Việc tổ chức các chương trình mở cánh cổng tới chủ nghĩa duy tâm và sự biến mất của óc phê phán. Kiến trúc của chúng được đặc trưng bởi sự chất đống các sự kiện hoặc thời kỳ được bàn theo chủ đề mà không giải thích mối quan hệ nhân quả. Người ta kể lịch sử nhưng không bao giờ phân tích ý nghĩa của các sự kiện , điều này gây ra mất khả năng phê phán. Các chương trình động viên kể chuyện quá khứ và không hiểu gì về câu chuyện cũng như rút được bài học gì từ đó. Giai cấp tư sản đã mất toàn bộ quan niệm nhất quán và khách quan về lịch sử và điều đó được biểu hiện bởi chủ nghĩa duy tâm trong dạy học. Ví dụ, hãy lấy cách dạy môn lịch sử tôn giáo. Chỉ có ba tôn giáo lớn đơn thần được nghiên cứu chi tiết và các chỉ thị của chính phủ yêu cầu phải dựa trên "các câu chuyện thần thánh" tách ra khỏi mọi bối cảnh. Nhân danh tính thế tục, hoàn toàn không thể giải thích sự xuất hiện và bản chất thực sự của các tính ngưỡng thần thánh trong khuôn khổ chủ nghĩa duy vật.

Trường học là một công cụ cốt yếu để lan truyền hệ tư tưởng thống trị trong hàng ngũ giai cấp công nhân. Ở dưới đáy, vai trò của nó là che giấu hiện thực xã hội TBCN. Giai cấp công nhân phản ứng thế nào trước điều này? Sự phát triển của tình đoàn kết và thống nhất trong đấu tranh. Chỉ có thông qua thực tiễn đấu tranh, giai cấp công nhân phát hiện ra họ bị bóc lột bởi tư bản. Chỉ thông qua những nhục nhã phải chịu đựng hàng ngày mà họ tìm ra quan niệm về thế giới mà giai cấp tư sản trình bày cho họ hoàn toàn không tương ứng với thực tế. Như Lênin đã viết,"chỉ có đấu tranh mới giáo dục giai cấp bị bóc lột. Chỉ có đấu tranh mới tiết lộ cho họ sức mạnh thực sự của họ, mở rộng triển vọng của họ, nâng cao năng lực của họ, làm sáng sủa đầu óc của họ, tôi luyện ý chí của họ. " (Lênin, Bài giảng về Cách mạng 1905). Cuộc đấu tranh "buộc họ phải hiểu cấu trúc của hệ thống kinh tế, hiểu xã hội là gì, kẻ thù và đồng minh của họ ở đâu."16 Đó chính là sự phát triển ý thức giai cấp giúp miễn dịch với hệ tư tưởng tư sản và cho phép nhận thức được đặc tính của họ và vai trò mà họ phải nắm lấy để vượt qua xã hội hiện tại. "Đó là ý thức tự giác. Và sự nhận thức này luôn đồng nghĩa với một cuộc đấu tranh giai cấp. Nhận thức giai cấp do đó đơn giản là sự khẳng định giai cấp vô sản là giai cấp cách mạng, một thực thể có ý thức."17
Trong việc nhận thức giai cấp, giai cấp vô sản không cần sự giả mạo lịch sử của trường học tư sản. Sự giáo dục của giai cấp vô sản là sự truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác của lịch sử, kinh nghiệm, học thuyết, đạo đức, đặc trưng chỉ thuộc về giai cấp công nhân. Bởi vì đừng quên rằng, "sự giải phóng giai cấp lao động là sự nghiệp của bản thân giai cấp lao động."
Chú thích:
1 "La suppression de l'histoire-géographie en Terminale S est une attaque économique et idéologique", Révolution Internationale, n° 408.
2 Ibid.
3 "Le communisme n'est pas un bel idéal mais une nécessité matérielle", Revue Internationale, n°68.
4 Ibid.
5 F. Engels, K. Marx, Manifeste du parti communiste, chap. 1. A l'époque où fut écrit ce texte en 1847, les connaissances sur les sociétés préhistoriques étaient infimes. L'organisation sociale antérieure, basée sur la propriété commune de la terre, était inconnue.
6 Ibid.
7 Pour une analyse plus approfondie de la signification de la Commune de Paris voir : "La Commune de Paris, premier assaut révolutionnaire du prolétariat" in Internationalisme, n° 351.
8 Manuel Nathan du programme de 3e.
9 Manuel Magnard du programme de 3e.
10 Programme de 3e, Bulletin officiel spécial n° 6 du 28 août 2008.
11 Manuel d'histoire, géographie, éducation-civique, Nathan 2014.
12 Présentation du programme d'éducation civique de 5e. Bulletin Officiel Spécial n°6 du 28 aout 2008.
13 Bulletin Officiel Spécial n°6 du 28 août 2008.
14 Patrick Garcia, Jean Leduc, L'enseignement de l'histoire en France de l'Ancien Régime à nos jours, Armand Colin, 2003.
15Aménagement au programme d'histoire-géographique-éducation civique, septembre 2013.
16 "Idéologie et conscience de classe", brochure Organisation communiste et conscience de classe.
17Idem.