Hiển thị các bài đăng có nhãn Huyền thoại. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Huyền thoại. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2017

7 huyền thoại về Liên Xô

Sau đây là bản dịch bài viết của Stephen Gowans, ngày 23/12/2013. Trong bài viết, tác giả dùng cụm từ “chủ nghĩa xã hội” hoặc “chủ nghĩa xã hội Xô-viết” đồng nhất với kinh tế kế hoạch theo mô hình Liên Xô.

Liên Xô đã giải thể cách đây 22 năm, ngày 26/12/1991. Bên ngoài các nước cộng hòa cũ của Liên Xô, người ta tin rằng các công dân Xô-viết tha thiết mong muốn điều này; rằng Stalin bị căm ghét như là một kẻ bạo ngược đê tiện; rằng kinh tế xã hội chủ nghĩa của Liên Xô chưa bao giờ hoạt động, và rằng, theo cách nói xúc động của các nhà báo, nhà chính trị và sử gia phương Tây,  công dân Liên Xô cũ yêu thích cuộc sống họ có ngày nay dưới nền dân chủ tư bản chủ nghĩa hơn cái chế độ áp bức, độc tài của nhà nước một đảng đứng trên một nền kinh tế XHCN xơ cứng, ọp ẹp và không thể hoạt động được.
Không một niềm tin nào ở trên là đúng.

Huyền thoại #1. Liên Xô không có sự ủng hộ của quần chúng nhân dân. Ngày 17/3/1991, chín tháng trước khi Liên Xô tan rã, các công dân Liên Xô đã bỏ phiếu ở cuộc trưng cầu dân ý hỏi rằng họ có ủng hộ giữ nguyên Liên Xô hay không. Trên 3/4 bỏ phiếu đồng ý. Như vậy, phần lớn người dân Liên Xô muốn duy trì Liên Xô.[1]

Huyền thoại #2. Người Nga căm ghét Stalin. Năm 2009, kênh truyền hình Nga, Rossiya, đã dành 3 tháng để thăm dò ý kiến trên 50 triệu người Nga để tìm xem ai trong quan điểm của họ là những người Nga vĩ đại nhất mọi thời đại. Đại công tước Alexander Nevsky, người đã đẩy lùi thành công cuộc xâm lược của phương Tây vào Nga ở thế kỷ 13, đứng ở vị trí đầu tiên. Vị trí thứ hai là Pyotr Stolypin, thủ tướng thời Sa Hoàng Nicholas II, người đã ban hành các cải cách ruộng đất. Ở vị trí thứ ba, sau Stolypin chỉ 5,500 phiếu, chính là Joseph Stalin, người mà các lãnh đạo phương Tây thường mô tả như là một kẻ độc tài tàn nhẫn với máu của hàng chục triệu người dưới bàn tay của ông ta.[2] Ông có thể bị chửi rủa ở phương Tây, chẳng có gì ngạc nhiên cả, bởi vì ông chưa bao giờ là người hợp với các tập đoàn phương Tây, những kẻ thống trị hệ tư tưởng phương Tây, nhưng dường như là người Nga có cái nhìn khác, rằng người Nga không phải là nạn nhân, mà hãnh diện dưới sự lãnh đạo của Stalin. 

Trong một bài báo tháng 5-6/2004 của tờ Foreign Affairs (Flight from Freedom: what Russians Think and Want/Bay từ Sự tự do: Người Nga nghĩ gì và muốn làm gì), sử gia Harvard chống cộng Richard Pipes đã trích dẫn một cuộc thăm dò ý kiến mà trong đó người Nga được đề nghị liệt kê 10 nhân vật vĩ đại nhất mọi thời gian. Những người tham dự được tìm những hình tượng ở bất kỳ nước nào, chứ không chỉ riêng người Nga. Stalin đứng thứ tư sau Pyotr đại đế, Lênin và Pushkin,...quá nhiều cho sự tức giận của Pipes. [3]


Huyền thoại #3. Chủ nghĩa xã hội Xô-viết đã không hoạt động. Nếu điều này là đúng thì chủ nghĩa tư bản với bất kỳ thước đo tương tự là một thất bại không thể chối cãi. Từ khi bắt đầu năm 1928 tới thời điểm bị phá hủy năm 1989, CNXH Xô-viết chưa bao giờ rơi vào khủng hoảng, trừ những năm tháng chiến tranh thế giới II khốc liệt, cũng chưa bao giờ thất bại trong việc cung cấp đầy đủ việc làm cho người dân. [4] Xin hỏi có nền kinh tế tư bản chủ nghĩa nào đã từng phát triển không ngừng, không có khủng hoảng, cung cấp việc làm cho tất cả, trong suốt 56 năm (khoảng thời gian mà kinh tế Liên Xô là XHCN và không có chiến tranh, 1928-1941 và 1946-1989)? Ngoài ra, kinh tế Xô-viết đã phát triển nhanh hơn các nền kinh tế TBCN ở trình độ phát triển tương tự khi Stalin khởi động kế hoạch 5 năm lần thứ nhất năm 1928 và nhanh hơn kinh tế Hoa Kỳ trong hầu suốt thời gian hệ thống XHCN tồn tại. [5] Đúng là kinh tế Xô-viết chưa bao giờ bắt kịp hay vượt qua các nền kinh tế công nghiệp tiên tiến của các nước TBCN phát triển, nhưng nó bắt đầu cuộc đua ở xa phía sau; không được giúp đỡ như các nước phương Tây đã thừa hưởng từ tài sản cướp bóc thời nô lệ, thuộc địa và chủ nghĩa đế quốc kinh tế; kinh tế Xô-viết không ngừng bị phá hoại bởi phương Tây, nhất là Hoa Kỳ. Đặc biệt có hại cho sự phát triển nền kinh tế Xô-viết là phải huy động các nguồn lực con người và vật chất từ kinh tế dân sự tới quân sự để đáp ứng thách thức từ áp lực quân sự phương Tây. Chiến tranh Lạnh và cuộc chạy đua vũ trang đã buộc Liên Xô rơi vào cuộc chiến chống lại những kẻ địch mạnh hơn đã kiềm chế để Liên Xô không bắt kịp được các nền kinh tế công nghiệp phát triển phương Tây, chứ không phải do sở hữu nhà nước hay kế hoạch. [6] Bất chấp những cố gắng không ngừng của phương Tây nhằm phá hoại Liên Xô, nền kinh tế XHCN Xô-viết vẫn có tăng trưởng dương trong mỗi năm không chiến tranh thời kỳ tồn tại của nó, cung cấp lượng vật chất đầy đủ cho tất cả mọi người. Xin hỏi nền kinh tế TBCN nào dám tuyên bố sự thành công tương tự?

Huyền thoại #4. Bây giờ, họ đã trải nghiệm, và công dân của Liên Xô cũ yêu thích CNTB hơn. Ngược lại, thực tế là họ yêu thích hệ thống kinh tế kế hoạch Xô-viết hơn, đó chính là CNXH. Trong một cuộc thăm dò ý kiến gần đây xem hệ thống kinh tế xã hội nào được ủng hộ, những người Nga đã trả lời rằng [7]:
  • Kế hoạch hóa nhà nước và phân phối, 58% 
  • Tư hữu và phân phối, 28% 
  • Khó nói, 14% 
  • Tổng cộng: 100% 
Pipes trích dẫn một thăm dò mà trong đó 72% người Nga “đã nói nói rằng họ muốn hạn chế sự khởi động kinh tế tư nhân”.[8]

Huyền thoại #5. 20 năm sau, các công dân của Liên Xô cũ cho rằng sự tan rã của Liên Xô có lợi hơn có hại. Lại sai. Theo một cuộc thăm do mới công bố của Gallup, cứ một công dân của 11 nước cộng hòa Xô-viết cũ, bao gồm Nga, Ukcraina, Belarus, cho rằng sự tan rã của Liên Xô có lợi cho đất nước họ, thì hai người nghĩ rằng nó có hại. Và kết quả còn nghiêng mạnh mẽ về phía “sự tan rã là có hại” đối với những người ở độ tuổi trên 45, tức những người biết rõ hệ thống Xô-viết.[9]

Cũng theo một thăm dò ý kiến khác trích dẫn bởi Pipes, 3/4 số người Nga hối tiếc về sự tan rã của Liên Xô [10], hầu như không có những gì bạn sẽ nghĩ về những người dân được cho là giải phóng từ một nhà nước được cho là áp bức và một nền kinh tế chậm chạp, ù ì.


Huyền thoại #6. Công dân Liên Xô cũ bây giờ sống tốt hơn. Chắc chắn là một vài người tốt hơn. Nhưng còn phần lớn thì sao? Biết rằng có nhiều người yêu thích hệ thống XHCN cũ hơn là hệ thống TBCN bây giờ và nghĩ rằng sự tan rã của Liên Xô gây hại nhiều hơn là tốt đẹp, ta có thể suy luận rằng phần lớn không sống tốt hơn trước, hoặc ít nhất là họ không thấy bản thân họ như thế. Quan điểm này được xác nhận ít nhất là khi nhìn vào tuổi thọ. Trong một bài báo ở tạp chí The Lancet về y khoa, có tiếng của Anh, nhà xã hội học David Stuckler và nghiên cứu viên y khoa Martin McKee chứng minh rằng sự chuyển tiếp sang CNTB ở Liên Xô cũ gây giảm mạnh tuổi thọ, và rằng “một số ít nước cộng sản cũ đã thu lại được mức tuổi thọ trước thời kỳ chuyển giao”. Ví dụ tuổi thọ đàn ông ở Nga vào năm 1985, tức là dưới chủ nghĩa cộng sản, là 67 tuổi. Năm 2007, tuổi thọ đó là dưới 60. Tuổi thọ lao dốc 5 tuổi giữa các năm 1991 và 1994.[11] Sự chuyển tiếp sang CNTB khi đó đã gây ra vô số ca tử vong trẻ sơ sinh, và tiếp tục gây ra tỷ lệ tử vong cao hơn so với thời xã hội chủ nghĩa (có tính nhân văn hơn). Một nghiên cứu năm 1986 của Shirley Ciresto và Howard Waitzkin dựa trên dữ liệu của Ngân hàng Thế giới, cho thấy rằng các nền kinh tế XHCN của khối Xô-viết đã tạo ra những kết quả có lợi theo các chỉ số về chất lượng cuộc sống như tuổi thọ, tỷ lệ tử vong của trẻ, lượng calo, hơn hẳn những nền kinh tế TBCN ở cùng trình độ phát triển kinh tế, và ngang với các nền kinh tế TBCN ở trình độ phát triển cao hơn. [12])


Khi nhìn vào sự chuyển tiếp từ nhà nước một đảng sang nền dân chủ đa đảng, Pipes nhắc tới một cuộc thăm dò ý kiến cho thấy người Nga coi nền dân chủ là lừa gạt. Trên 3/4 số người dân tin rằng “nền dân chủ là cái vỏ để bè lũ giàu có điều khiển chính phủ”.[13] Ai nói người Nga không sáng suốt?

Huyền thoại #7. Nếu công dân Liên Xô cũ thực sự muốn quay trở lại CNXH, họ chỉ cần bỏ phiếu có là xong.
 Nếu vậy thì quá đơn giản. Các hệ thống TBCN được thiết kế để có thể ban hành các chính sách công có lợi cho các nhà tư bản, chứ không phải là quần chúng nhân dân, nếu lợi ích của quần chúng là ngược lại với lợi ích của các nhà tư bản. Ví dụ như Obamacare, nước Mỹ không có đủ bảo hiểm y tế công. Tại sao? Theo như các cuộc thăm dò ý kiến, phần lớn người Mỹ muốn có nó. Vậy sao họ không bỏ phiếu? Đương nhiên, câu trả lời là có những lợi ích tư bản mạnh mẽ, chủ yếu là các công ty bảo hiểm tư nhân, đã sử dụng của cải và các mối quan hệ của họ để chặn một chính sách công làm giảm lợi nhuận của họ. Những gì phổ biến không phải luôn luôn chiếm ưu thế trong các xã hội mà những người sở hữu và điều khiển kinh tế có thể sử dụng tài sản của họ và các mối quan hệ để thống trị hệ thống chính trị, để thắng thế trong các cuộc đua đặt lợi ích thượng lưu chống lại lợi ích quần chúng. Như Michael Parenti đã viết,
Chủ nghĩa tư bản không chỉ là một hệ thống kinh tế, mà là cả một trật tự xã hội. Một khi nó đã được thiết lập thì sẽ không có chuyện bỏ phiếu xóa bỏ sự tồn tại của nó bằng cách bầu những người XHCN hoặc cộng sản. Họ có thể nắm các chức vụ, trừ của cải quốc gia, các mối quan hệ tư hữu cơ bản, luật pháp cơ bản, hệ thống tài chính và cấu trúc nợ cùng với truyền thông quốc gia, quyền lực cảnh sát và các thiết chế nhà nước đã được tái cấu trúc một cách cơ bản. [14]

Cách để người Nga quay lại CNXH phải giống với cái cách họ đã làm lần đầu tiên, đó là thông qua cách mạng, chứ không phải bầu cử - và các cuộc cách mạng không đơn giản xảy ra bởi vì người dân thích hệ thống nào hơn hệ thống họ đang có. Các cuộc cách mạng xảy ra khi cuộc sống không thể sống được nữa theo cách cũ – và người Nga đã không chạm tới cái mốc mà cuộc sống họ sống không thể chịu đựng được nữa.


Một điều thú vị, năm 2003 có một cuộc thăm dò hỏi xem người Nga họ sẽ phản ứng thế nào nếu những người cộng sản nắm lại quyền lực. Gần 1/4 sẽ cổ vũ chính quyền mới, 1/5 sẽ hợp tác, 27% sẽ chấp nhận nó, 16% sẽ di cư, và chỉ có 10% sẽ chống đối. Hay nói cách khác, với mỗi người Nga chống lại sự nắm quyền của những người cộng sản, thì có 4 người sẽ ủng hộ hoặc hợp tác, và 3 sẽ chấp nhận [15] – đó không phải là điều bạn sẽ kỳ vọng nếu bạn nghĩ rằng người Nga vui sướng thoát khỏi sự khốn khổ dưới chủ nghĩa cộng sản.


Do đó, sự ra đi của Liên Xô được hối tiếc bởi những người trực tiếp biết Liên Xô (nhưng không phải bởi những nhà báo, nhà chính trị hay sử gia phương Tây, những người chỉ biết CNXH Xô-viết thông qua lăng kính hệ tư tưởng TBCN của họ). Bây giờ họ đã có trên hai thập kỷ với nền dân chủ đa đảng, doanh nghiệp tư nhân và một nền kinh tế thị trường, người Nga không nghĩ những thiết chế này là những kỳ quan mà các chính trị gia và truyền thông phương Tây đã mang tới cho họ. Phần lớn người Nga mong muốn quay trở lại hệ thống kinh tế kế hoạch Xô-viêt, tức là CNXH.


Kể cả như vậy, những thực tế này bị che lấp sau một đống tuyên truyền với mật độ đạt cực điểm vào ngày Liên Xô tan rã. Chúng ta được cho là tin tưởng rằng ở nơi sinh ra chủ nghĩa xã hội, thì CNXH bị căm ghét một cách phổ biến và không thể hoạt động – mặc dù chẳng có khẳng định nào là đúng cả.


Tất nhiên, những quan điểm chống Xô-viết có vị trí bá quyền ở trung tâm của CNTB là không có gì đáng phải ngạc nhiên. Liên Xô bị chửi rủa bởi hầu hết những người phương Tây: những kẻ Trotskist, bởi vì Liên Xô được xây dựng dưới sự lãnh đạo của Stalin (chứ không phải bởi những kẻ Trotskist); những kẻ dân chủ xã hội, bởi vì những người Xô-viết đã làm cách mạng và lật đổ CNTB; bởi những nhà tư bản vì lý do hiển nhiên; và bởi truyền thông đại chúng (mà được sở hữu bởi các nhà tư bản) và các trường học (mà chương trình giảng dạy, định hướng tư tưởng và nghiên cứu kinh tế, chính trị bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi họ).


Vì thế, nhân ngày Liên Xô tan rã của Liên Xô, chúng ta không nên ngạc nhiên khi phát hiện ra những kẻ thù của CNXH sẽ trình bày góc nhìn về Liên Xô một cách trái ngược với những người đã thực sự trải nghiệm Liên Xô, với những gì mà nền kinh tế XHCN đã đạt được và với những gì mà những người bị tước mất CNXH thực sự mong muốn.

1.”Referendum on the preservation of the USSR,” RIA Novosti, 2001,http://en.ria.ru/infographics/20110313/162959645.html
2. Guy Gavriel Kay, “The greatest Russians of all time?” The Globe and Mail (Toronto), January 10, 2009.
3. Richard Pipes, “Flight from Freedom: What Russians Think and Want,” Foreign Affairs, May/June 2004.
4. Robert C. Allen. Farm to Factory: A Reinterpretation of the Soviet Industrial Revolution, Princeton University Press, 2003. David Kotz and Fred Weir. Revolution From Above: The Demise of the Soviet System, Routledge, 1997.
5. Allen; Kotz and Weir.
6. Stephen Gowans, “Do Publicly Owned, Planned Economies Work?” what’s left, December 21, 2012.
7. “Russia Nw”, in The Washington Post, March 25, 2009.
8. Pipes.
9. Neli Espova and Julie Ray, “Former Soviet countries see more harm from breakup,” Gallup, December 19, 2013, http://www.gallup.com/poll/166538/former-soviet-countries-harm-breakup.aspx
10. Pipes.
11. Judy Dempsey, “Study looks at mortality in post-Soviet era,” The New York Times, January 16, 2009.
12. Shirley Ceresto and Howard Waitzkin, “Economic development, political-economic system, and the physical quality of life”, American Journal of Public Health, June 1986, Vol. 76, No. 6.
13. Pipes.
14. Michael Parenti, Blackshirts & Reds: Rational Fascism and the Overthrow of Communism, City Light Books, 1997, p. 119.
15. Pipes.

Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2017

Huyền thoại Bill Gates bỏ học đại học



Sau đây là bản dịch bài viết trên blog của Tim Ferriss. Tiêu đề do người dịch đặt lại.

Trước khi tôi phải thiết lập chính sách không đọc phê bình/không quảng cáo của tôi cho các cuốn sách với lý do dung lượng, tôi đã nhận được một email từ Rick Smith, giám đốc điều hành sáng lập của World 50, một trong những công ty điều hành mạng cao cấp độc nhất trên thế giới, với các thành viên và cộng tác viên như Bono, Francis Ford Coppola, và Phil Knight…

Anh ta quan tâm tới việc nhờ tôi xem cuốn sách mới Leap của anh ta, và tôi có gợi ý anh ta gửi cuốn sách với việc hiểu rằng tôi có thể không có thời gian đọc nó. Nói thật, tôi đã mất một thời gian dài băn khoăn lật cuốn sách ra, như phụ đề "Cách 3 thay đổi đơn giản có thể đẩy sự nghiệp của bạn từ Tốt thành Vĩ đại", theo ý kiến tôi, là thiếu kêu gọi tình dục và lạc đường. Nó nên được đặt là "Cách thúc đẩy cuộc đời bạn từ Tốt thành Vĩ đại". "Sự nghiệp" không phải từ thích hợp chút nào.

Tôi đã kết thúc cuốn sách trong hai lượt.

Cuối cùng, đây là một cuốn sách phá hủy huyền thoại ông chủ công ty là người mạo hiểm, sử dụng các minh chứng trong các doanh nghiệp khởi nghiệp đã trở thành các công ty Fortune 100, cho tới Live Aid, và Girl Scouts.

Một trong những loại kháng cự khó chịu nhất mà tôi gặp phải khi nói chuyện về thiết kế phong cách sống hay phẩm chất để làm ông chủ là một câu trả lời đại khái theo các dòng kiểu "Tuyệt vời cho bạn, nhưng tôi có con nhỏ và thế chấp. Tôi không muốn mạo hiểm."

Phần lớn những ông chủ công ty rất thành công mà tôi biết đều không đánh cuộc lớn, mà chỉ đánh cuộc nhỏ trong khi giữ một chân chắc chắn ở khu an toàn. Điều này thường bao gồm thử cái gì đó mới, trong khi vẫn làm việc toàn thời gian, như bản thân Rick đã làm trước khi tạo ra World 50 từ con số 0. Phần lớn họ không bao giờ đánh bạc trong đời thực, và một tỷ lệ tương đối không đầu tư vào thị trường công (giống như tôi) bởi vì thiếu khả năng kiểm soát. Có những người bạo gan đặt hết mọi thứ lên bàn để được ăn cả, ngã về không không? Chắc chắn. Nhưng đừng tin, chỉ bởi truyền thông thường thích làm nổi bật những kẻ liều mạng táo tợn này, rằng họ là phần lớn các nhà sáng lập tuyệt hạng. Không phải.

Sau đây là một đoạn trích trong Leap cho thấy nhận thức của những ông chủ doanh nghiệp xa tới đâu. Trong trường hợp này, chúng ta bắt đầu với Bill Gates.

Đặt tất cả thẻ đánh bạc lên bàn?

Khi tôi lớn lên, với một sự quan tâm sớm tới kinh doanh, gần như không thể không ghen tỵ với những người như Gates, và thậm chí so sánh bản thân với họ. Gates đã đặt toàn bộ thẻ đánh bạc lên bàn ở một thời điểm, và ra đi giàu có hơn Croesus. Còn tôi? Ừm, thậm chí tôi còn chưa bao giờ ngồi xuống bàn. Cách tôi đã nhìn nó, tôi không thể.

Tôi tốt nghiệp ở một trường đại học của bang với một đống nợ để trả. Tôi đã bắt đầu đào được con đường ra khỏi nợ nần cá nhân không sớm hơn trước khi gặp vợ tôi (người đã không thể mang cái xẻng riêng của cô ý). Tôi nhớ câu nói đùa của bố vợ sau khi chúng tôi kết hôn, "Con trai," bố vợ nói, "bố muốn để con biết về của hồi môn của Lori, đó là các khoản vay sinh viên và những chiếc răng xấu xí của cô ý!" Ông cười rộ lên, còn tôi thì rên rỉ. Thêm vào đó là 3 đứa trẻ sinh ra trong vòng 5 năm, và tôi đã cảm thấy như thể tôi bước đi ì ạch trên cát lún.
Nếu tôi ở vị trí khác, tôi đã thường suy nghĩ. Nếu tôi có can đảm để mạo hiểm hơn, giống như Bill Gates, giống hàng đống người khác mà tôi đã liệt kê cho chính tôi. Và cuối cùng, sau nhiều năm, tôi đã nhận ra rằng đó hoàn toàn không phải cách mà mọi thứ đã diễn ra.
William Henry Gates III sinh ngày 28/10/1955 ở Seattle, Washington, trong một gia đình với lịch sử giàu có về kinh doanh, chính trị và dịch vụ cộng đồng. Cụ của ông làm ở cơ quan lập pháp, và là thị trưởng, ông của ông là phó chủ tịch một ngân hàng quốc gia, và cha ông là một luật sư rất giàu có và nổi tiếng.
Do chàng trai trẻ Bill học giỏi xuất sắc sớm ở trường học, đặc biệt là khoa học và toán học, bố mẹ của anh ta đã thấy rằng anh ta được đăng ký vào trường Lakeside Prep danh tiếng, nổi tiếng với môi trường học thuật sôi nổi. Đó là khoảng cuối những năm 1960, khi mà thế giới tính toán mới chỉ bắt đầu hé ra và mang một thẻ giá vàng. Nhưng không vấn đề gì. Để đảm bảo học sinh của Lakeside không bị bỏ lại phía sau, nhà trường đã tổ chức gây quỹ, với số tiền thu được, thuê những gì mà trường cho rằng có trị giá thời gian một năm trên một máy tính sở hữu bởi General Electric.
Bill Gates, bạn thân của anh ta Paul Allen, và một số ít người khác đã tấn công kế hoạch đó một cách rất khẩn trương. Họ bắt đầu lang thang trong phòng máy tính ngày và đêm, học mọi thứ họ có thể, thậm chí bỏ qua các nghĩa vụ học thuật khác của họ. Trong khoảng vài tuần, giá trị của thời gian máy tính được phân bổ của năm dự kiến đã hết, nhưng đấy cũng không phải vấn đề. Trường đơn giản ký thỏa thuận mới, lần này với Tập đoàn Trung tâm Máy tính  đặt tại Seattle để lấy thêm thời gian máy tính với tỷ lệ tốt.
Điều đó lẽ ra đã hoạt động nếu các chàng thanh niên Gates và bạn bè không ngay lập tức bắt đầu (a) bẻ khóa hệ thống an ninh của Tập đoàn này để họ có thể đặt lại đồng hồ đo sử dụng máy tính và (b) đánh sập hệ thống chỉ là cho vui. Họ đã bị bắt, và công ty cấm Gates và đồng bọn sử dụng máy tính trong vài tuần. Suy nghĩ của Gates và Allen như là các cha đỡ đầu của tiểu văn hóa bẻ khóa đã gây thiệt hại cho Microsoft và thế giới hàng trăm tỷ đô-la thực sự làm rối bời tâm trí. Nhưng lại một lần nữa, việc lưu vong chỉ là tạm thời.
Việc kinh doanh của tập đoàn bắt đầu chịu thiệt hại từ an ninh yếu đuối của hệ thống và việc thường xuyên sụp đổ hệ thống, nhiều lỗ hổng trong đó đã được Gates và bạn bè khai thác,  vì thế công ty đã đưa ra một thỏa thuận với nhóm của Gates: tìm lỗi và xác định chính xác chỗ yếu của hệ thống và họ có thể sử dụng không giới hạn máy tính.
Năm 1970, Tập đoàn Trung Tâm Máy tính rơi vào rắc rối tài chính và có thể đẩy nó ra khỏi khu vực kinh doanh, nhưng khi đó, Gates và Allen đã tìm thấy một căn nhà máy tính mới ở Đại học Washington nơi mà bố của Allen làm việc. Lakeside cũng hăng hái bắt tay: trong suốt năm học của Gates tại trường chuẩn bị, ban lãnh đạo trường đề nghị anh ta một công việc là máy tính hóa hệ thống thời gian biểu. Trong mùa hè, Gates và Allen viết chương trình, điều này tình cờ đã đảm bảo Gates được phân vào lớp toàn con gái, một cảnh phim trả thù của anh chàng mọt sách.
Mùa thu năm 1973, Gates rời Seattle để bắt đầu sinh viên năm 1 ở Harvard, một phần của kế hoạch cuộc đời tiền lập trình. Allen, người đã gần như chắc chắn đã được chọn tới Harvard cùng với bạn, đã chọn một con đường khác. Anh muốn kinh nghiệm thực tiễn, nhưng cả hai vẫn giữ liên lạc thân thiết, thường trao đổi về khả năng một ngày thành lập công ty, và cuối năm thứ nhất của Gates tại Harvard, Allen đã chuyển tới gần hơn ở Boston để hai người có thể tiếp tục theo đuổi những khả năng vẫn còn chưa rõ ràng. Sau đó, tháng 12 của năm sinh viên thứ 2 của Gates, tương lai lờ mờ đã bắt đầu hiện rõ hình hài.
Trong một chuyến thăm tới Harvard, Allen dừng lại ở một cửa hàng đồ tiện nghi và chú ý tới số báo hiện tại của tạp chí Popular Electronics. Trên trang bìa, dưới tiêu đề "Thiết bị vi máy tính đầu tiên của thế giới tới các mô hình thương mại cạnh tranh" là bức ảnh của Altair 8800. Được tiếp sinh lực như chưa bao giờ có, Allen đã đưa tờ tạp chí cho Gates và trong một vài ngày, Gates đã gọi cho nơi sản xuất máy tính, Micro Instrumentation Telemetry Systems (MITS), và nói với họ rằng anh đã viết một chương trình máy tính BASIC có thể sử dụng trên Altair.
Đó là một lời nói dối. Gates và Allen chỉ thử đo sự quan tâm của công ty. Nhưng MITS đã thất vọng sâu sắc: cái máy tính ở trên trang bìa vẫn chưa được triển khai và thậm chí mẫu đầu tiên đã bị mất khi chuyển hàng. Tuy vậy, tạp chí vẫn tạo ra sự hấp dẫn vượt xa mong đợi, vì thế mà MITS đề nghị Gates và Allen tới và trình bày điều họ đang nghĩ. Chỉ khi đó cả hai mới bắt đầu viết mã. Gates tập trung vào lập trình trong khi Allen làm việc về mô phỏng cách chương trình hoạt động trên Altair 8800 mà họ đã không có.

Tại cuộc họp 8 tuần sau đó, chương trình đã hoạt động một cách hoàn hảo, và MITS sắp xếp thỏa thuận mua quyền cho BASIC của Gates. Gates sau này nói rằng chính ở thời điểm đó, anh biết là thị trường phần mềm đã ra đời. Mặc dù sự chắc chắn đang lớn lên của Gates về cơ hội ngay trước mắt, Bill Gates đã phải chờ thêm 12 tháng, cho tới hết năm 3 đại học, anh ta mới bỏ học, và cùng với Allen thành lập Microsoft. Và thậm chí sau đó, công ty đáng lẽ chỉ hơn một chút so với một ghi chú trong lịch sử phần mềm nếu không có mẹ của Bill Gates.

Hoạt động phục vụ cộng đồng lâu năm ở khu vực Seattle, Mary Maxwell Gates đã trở thành nữ chủ tịch đầu tiên của United Way of King County và là chủ tịch của ủy ban điều hành của United Way quốc gia, một trong những vị trí phi lợi nhuận ảnh hưởng nhất trên thế giới. Một trong những người phục vụ cho ủy ban điều hành với sự hậu thuận của bà đầu những năm 1970 là John Akers, người sau này trở thành CEO và chủ tịch của  International Business Machines (IBM) và John Opel, người tiền nhiệm của Akers trong cả hai vị trí.

Mary Gates có đề cập với Opel về công ty mới của con trai bà, các thông tin này được Opel sắp xếp lại cho các giám đốc điều hành cao cấp khác  của IBM. Không có bản ghi chép về những điều đã được nói và nói với ai, nhưng chỉ một ít tuần sau khi Mary Gates đánh tiếng, IBM đã nắm lấy một cơ hội lớn bằng việc hợp đồng với công ty non trẻ của Gates để phát triển một hệ điều hành  cho máy tính cá nhân đầu tiên của công ty. Thành công của cả máy tính cá nhân IBM và hệ điều hành MS-DOS, cùng với thỏa thuận ngọt ngào cho phép Microsoft giữ lại quyền cho phần mềm của họ, là cái cuối cùng mà Bill Gates đã làm, người đàn ông giàu nhất thế giới.

Kinh nghiệm, chứ không phải niềm tin

Vậy, phải chăng Bill Gates đã bỏ những bằng cấp danh giá nhất thế giới để theo đuổi một con đường không an toàn? Đấy, cuối cùng thì anh ta đã làm nhữn quyết định mà không thể quay lại được. Phần huyền thoại đó hoàn toàn chính xác. Nhưng có phải Gates là một người mạo hiểm vĩ đại không? Đó là một câu chuyện phức tạp hơn.

Vị thế và của cải của gia đình anh ta cung cấp cho anh ta sự đảm bảo cho tuổi trẻ học máy tính vui vẻ và anh ta có thể nhận giáo dục tốt nhất có thể. Đối với câu chuyện bỏ học Harvard nổi tiếng, anh ta đã xin bảo lưu để rời khỏi trường, một kiểu dây rốn tình cảm giữ chặt anh ta với Harvard lâu dài sau thời gian nghỉ học, trong trường hợp công việc không tới đâu cả. Nhưng cũng từ đó, anh ta đã hoàn toàn chuyển ván bài về phía có lợi cho anh ta. Sau một nửa thập kỷ nhảy múa với cơ hội, bắt đầu sớm trong trường THPT, anh ta đã bao phủ phần lớn rủi ro bất lợi của mình. Ví dụ anh ta biết rằng anh ta yêu công việc và Micro-soft thời kỳ đầu đã có các dự án đang được triển khai.

Thêm nữa, Gates đã xác nhận rằng cả anh và Allen đều thừa khả năng với công nghệ mới này, và anh ta có thể thấy khả năng này là rất lớn. Công nghiệp mới chỉ đang ló ra, và mẹ anh ta ở một vị trí đặc biệt có ảnh hưởng là người đứng đầu của ủy ban điều hành United Way mà bao gồm hai CEO tương lai của công ty máy tính thống trị thế giới. Như họ nói, thường không phải cái gì bạn biết mà là mẹ bạn biết ai có thể cho bạn những hợp đồng tỷ đô.

Hoàn toàn không phải là một trong những người mạo hiểm vĩ đại của thế giới, Bill Gates chính xác hơn có thể được coi là một trong người làm giảm nhẹ rủi ro vĩ đại nhất thế giới. Và ở đó, anh ta không cô đơn. Sự kiện đơn giản là bất kỳ ai cũng sợ mạo hiểm ở mức độ nào đó, bao gồm tất cả những mà tôi đã phỏng vấn cho cuốn sách này. Đó là bản tính con người. Nhưng sự kiện xa hơn là Cánh Cửa Số 3, đó là một huyền thoại, cho dù chúng ta đang nói về huyền thoại Bill Gates hay các huyền thoại mà chúng ta kể riêng cho nhau nghe.


Bạn không nhất thiết phải can đảm để thay đổi mạnh mẽ cuộc đời bạn. Sự thay đổi không xuất phát từ sự can đảm thuần túy. Nó "lóe" lên từ một chuỗi các sự kiện hình thành sự va chạm và kinh nghiệm, cả hai điều đó giúp tạo ra những rủi ro bất đối xứng. Qua sự lóe lên, cơ hội có lợi được xác nhận khi rủi ro bất lợi được giảm nhẹ. Cuối cùng, bước nhảy, khi nó tới, không phải là một niềm tin mà là kinh nghiệm, thậm chí sự an ủi, cũng giống như trường hợp của Gates.

Phải chăng Palestine là vùng đất khô cằn cho tới khi những người Israel làm cho sa mạc của nó nở hoa?

Bài viết này (đăng ngày 7/11/2001) bổ sung thêm thông tin cho bài viết trước về huyền thoại Israel. Bài viết không nhằm mục đích coi thường công nghệ nông nghiệp của quốc gia "khởi nghiệp" này như đã được quảng cáo rầm rộ trên báo chí dân túy, mà là chứng minh rằng đất đai Palestine là vùng đất màu mỡ, và được người Palestine thực hiện quyền sở hữu và canh tác rất có hiệu quả từ lâu rồi.

Ngay từ những giai đoạn đầu tiên của chủ nghĩa Xi-ôn cho tới bây giờ, những tên Xi-ôn-nít vẫn tuyên truyền huyền thoại rằng dải đất quan trọng nhất trong lịch sử loài người (Palestine) là trống không, và khô cằn trong 2000 năm, cho tới mãi sau này được người Do Thái Israel phát triển. Dựa trên tài liệu thống kê của Ủy nhiệm Anh và các nguồn khác, huyền thoại về Palestine và người dân bản địa sẽ được chứng minh là sự bịa đặt của Israel nhằm lãng mạn hóa "sự trở lại của người Do Thái và cứu rỗi Vùng Đất Hứa." Độc giả sẽ mau chóng thấy rằng vùng đất khô cằn năm 1948 vẫn khô cằn là một sự kiện có thể dễ dàng chứng minh bằng cách sử dụng Hình ảnh vệ tinh của Google. Hãy xem bản giải thống kê chi tiết sản lượng nông nghiệp của Palestine cho mùa màng năm 1944-1945, chúng tôi sẽ trích dẫn trực tiếp Ủy nhiệm Anh (đã soạn thảo cuốn sách hai tập, có tiêu đề là Tổng quan về Palestine, cho Liên hợp quốc năm 1946-7) như sau:
Người Palestine
Người Do Thái
Tổng cộng
Dunum***
Tấn
Giá trị*
Dunum***
Tấn
Giá trị*
Dunum
Tấn
Giá trị*
Thóc
4,152,438
193,376
4,403,409
215,191
16,579
497,048
4,367,629
209,955
4,900,457
Rau
239,733
189,104
5,113,553
40,207
55,730
1,745,870
279,940
244,834
6,859,423
Cỏ khô
23,970
20,827
156,847
119,578
176,525
951,178
143,543
197,352
1,108,025
Quả**
355,709
73,320
3,139,374
37,217
21,398
1,379,620
392,926
94,718
4,518,994
Ôliu
592,546
78,287
3,320,320
7,587
1,182
53,235
600,133
79,469
3,373,555
Dưa hấu
120,304
135,634
969,630
5,675
7,193
83,975
125,979
142,827
1,053,605
Tổng
5,484,700
690,548
17,103,133
425,455
278,607
4,710,926
5,910,150
969,155
21,814,059
Tỷ lệ
92.8%
71.25%
78.40%
7.20%
28.75%
21.60%
100%
100%
100%
Nguồn: Tổng quan về Palestine, soạn bởi Ủy nhiệm Anh cho Liên hợp quốc, trang 323-327
* Đơn vị theo cân Palestine.
** Quả không thuộc giống cam quýt. Sản lượng cam = 248,274 dunum, trong đó 120,897 dunum là của người Do Thái (Bổ sung cho Tổng quan về Palestine, tr. 37)

*** Một Dunum = 1,000 mét vuông.
Nhấn vào đây để xem các trang được scan chính xác từ  Tổng quan về Palestine mà chúng tôi đã trích dẫn dẫn liệu từ đó.
Hãy chiêm ngưỡng số liệu thống kê đất về Palestine sau đây (dựa trên Sách sự kiện thế giới của CIA) trước khi chúng tôi rút ra các kết luận.
Thống kê đất
Giá trị
Tổng cộng
26,000.0 km2 = 20,000 (Israel) + 6,000 (Bờ Tây + Dải Gaza)
Đất trồng trọt được
4,420.0 km2 = 17% * 26,000 km2.
Đất được trồng bởi người Do Thái
425.4 km2 = 425,455 /1000
Đất được trồng bởi người Palestine
5,484.7 km2 = 5,484,700 /1000
Đóng thùng Cam nổi tiếng của Jaffa 1898-1914.


Dựa trên những thống kê này, rõ ràng rằng người dân bản xứ đã trồng hơn 13 lần những kẻ thực dân châu Âu mới nhập cư tới, giải thích tại sao phần lớn trong số họ thích làm việc trong khu vực dịch vụ và công nghiệp chế tạo. Cần phải nhấn mạnh rằng Cơ quan Do Thái và Quỹ quốc gia Do Thái đã cung cấp hàng đống tiền trợ cấp và ưu đãi (ví dụ như tư vấn miễn phí, các khoản vay, và các chương trình hợp đồng cho thuê dài hạn hấp dẫn) nhằm động viên người Do Thái "cứu rỗi" vùng đất. Mặt khác, nông nghiệp Palestine sinh lợi và duy trì được mà không cần bất kỳ sự trợ giúp nào từ chính quyền địa phương.
Cần phải nhấn mạnh rằng người Do Thái sở hữu dưới 7%  Palestine, trong đó, chỉ 44% đã được người Do Thái sử dụng cho các mục đích nông nghiệp  (nhấn vào đây để xem trang scan chính xác từ  Tổng quan về Palestine tr. 376). Ở khía cạnh này, chúng tôi hỏi độc giả rằng huyền thoại có thể đúng tới cỡ nào nếu người Do Thái canh tác dưới 3% của Palestine?
Ngay sau Nakba, những người Do Thái chiến thắng đã phá hủy phần lớn nông trường và cánh đồng của người Palestine bị chiếm đoạt, đặc biệt là các cánh đồng ô-liu và cam, đòi hỏi rất nhiều sức lao động để duy trì và thu hoạch. Ở khía cạnh này, sẽ rất phù hợp khi trích dẫn nhà văn Xi-ôn người Israel Meron Benvenisti, người đã mô tả quang cảnh Palestine ngay sau Nakba như sau:
"Sự phá hủy hàng trăm nghìn dunum diện tích cây ăn quả không phù hợp với hình ảnh tự xưng của Israel như là một xã hội biết cách làm sa mạc nở hoa. Và luận điệu cho rằng cảnh quan xanh của người Arab đã bị phá hủy là vì sự cần thiết trồng các loại cây cho hoạt động nông nghiệp của người Do Thái chỉ nhấn mạnh rằng, không phải chiến tranh đã gây ra sự tàn phá này, mà là sự biến mất của cộng đồng con người cụ thể đã hình thành quang cảnh phù hợp với nhu cầu và sở thích. Sự phá hủy nhiều diện tích lớn vườn cây ăn quả đã không thu hút được cùng mức độ lợi ích như việc phá hủy các làng người Arab, mặc dù nó có thể mang tới nhiều tác động tàn phá đối với cảnh quan." (Cảnh quan thiêng liêng, trang. 165) Nhấn vào đây để xem bộ phim tài liệu để xem cách người Israel đã nhổ gốc trên nửa triệu cây ô-liu ở khu vực Bờ Tây bị chiếm đóng.
Hãy phân tích huyền thoại được pha chế này từ góc nhìn khác bằng cách so sánh sản lượng nông nghiệp hiện tại của người Li-băng và Israel. Dựa trên Sách sự kiện thế giới trực tuyến của CIA, chúng tôi đã sưu tầm được các dữ liệu sau cho năm 2006:
Israel
Li-băng
Tổng diện tích đất
20,330 km2
10,230 km2
Đất trồng trọt được
3,140 km2= 15.45% * 20,330 km2
1,672 km2= 16.35% * 10,230 km2
Đất được tưới
1,940 km2 (2003)
1,040 km2 (2003)
Dân số
6.4 triệu
3.93 triệu
Tổng GDP
$140.3 tỷ (2006 est.)
$19.89 tỷ (2006 est.)
Sản lượng nông nghiệp
$3.64 tỷ = 2.6% of GDP
$1.39 tỷ = 7% of GDP
Lực lượng lao động trong nông nghiệp
2.6% of 2.42 triệu = 62,920
N/A
Nguồn


Công ty cam Jaffa , bị cướp bởi người Do Thái Israel, nhấn vào để phóng to

Sau khi điều chỉnh thống kê của Li-băng nhằm phản ánh sai khác cỡ (trong cỡ đất trồng trọt được và dân số) so sánh với Israel, sản lượng nông nghiệp Li-băng trở thành 2.8 tỷ đô-la, ít  hơn chút  so với Israel (3.64 tỷ đô-la). Khi chiêm ngưỡng các sự kiện này, các sự kiện sau về cả hai nước cũng đáng chú ý:
  • Phần lớn dân số người Do Thái Israel là người thành thị, sống tập trung chủ yếu ở trong và xung quanh các thành phố Tel-Aviv-Jaffa, Jerusalem, và Haifa; điều này giải thích tại sao chỉ có 2.6% lực lượng lao động của Israel hoạt động trong nông nghiệp. Bạn đọc có thể ngạc nhiên rằng Israel có tỷ lệ người thành thị cao nhất trong các nước công nghiệp,  nhấn vào đây cho minh họa đồ thị.
    http://lw.palestineremembered.com/ZionistFAQ.gif
  • Nông nghiệp ở Israel luôn luôn được trợ cấp mạnh mẽ bởi chính phủ Israel, nói cách khác, sản lượng nông nghiệp của Li-băng lẽ phải lớn hơn nhiều so với 1.39 tỷ.
    http://lw.palestineremembered.com/ZionistFAQ.gif
  • Israel đang đầu tư hàng tỷ đô-la, phần lớn được tài trợ bởi những người đóng thuế Hoa Kỳ, để làm chệch dòng nước sạch từ sông Jordan và biển hồ Tiberius. Mặt khác, Li-băng không có cái may mắn đó, tất cả nước sạch của Li-băng đều chảy ra biển mà không có nỗ lực nào giữ nước lại.
    http://lw.palestineremembered.com/ZionistFAQ.gif
  • Cơ sở hạ tầng của Li-băng bị tàn phá trong suốt cuộc chiếm đóng của Israel các năm 1982-2000 và nội chiến. Và nếu không phải vì sự tàn phá này, sản lượng nông nghiệp của Li-băng lẽ ra phải lơn nhiều so với 1.39 tỷ đô-la/năm.

Hay nói cách khác, do xã hội Li-băng và Palestine đã rất giống nhau ở nhiều khu vực, dễ dàng có thể kết luận rằng người Palestine lẽ ra cũng sản xuất được nhiều như người Li-băng nếu họ không bị tước bởi người Israel.
Cũng cần phải nhấn mạnh rằng ngay cả những kẻ Xi-ôn-nít hăng hái nhất cũng khó có thể bác bỏ được rằng các đồn điền cam Jaffa đã được trồng đầu tiên, được bán ở thị trường châu Âu, được đóng gói, và thu hoạch chủ yếu bởi các công ty của người Arab Palestine, nhấn vào đây để xem bằng chứng. Vào khoảng năm 1891, Ahad Ha'Am (tiểu luận gia người Do Thái Đông Âu hàng đầu) đã cố gắng làm sáng tỏ cho nhiều người Do Thái về việc Palestine không phải vùng đất hoang vắng, ông đã thuật lại dựa theo chuyến thăm Palestine trong 3 tháng năm 1891:
"Chúng ta ở nước ngoài thường tin rằng Eretz Yisrael (vùng đất Israel, chú thích của N.D.) bây giờ là hoàn toàn hoang vắng, một sa mạc không được gieo trồng ..... Nhưng sự thật không phải vậy. Khắp đất nước, khó tìm được nơi nào mà không được gieo trồng. chỉ có các cồn cát và núi đá ... là không được trồng trọt mà thôi. " (Righteous Victims, tr. 42)
Cứ giả sử một lúc rằng huyền thoại vô căn cứ là sự thật, những câu hỏi mà nhiều người Palestine hỏi là:
  • Thậm chí nếu "đúng" là người Do Thái đã làm sa mạc của người Palestine nở hoa, điều đó có hợp pháp hóa sự ăn cắp trắng trợn nhà cửa, nông trại, kinh doanh, ngân hàng, xe ôtô, xe buýt, trường học v.v. của người Palestine không? Điều đó có biện minh cho việc trục xuất người dân bản địa để dọn đường cho những người tị nạn Do Thái ở châu Âu mới tới không? Cần phải lưu ý rằng người Palestine sở hữu và điều hành hơn 93% đất đai Palestine, như năm 1945, nhấn vào đây để xem minh họa bản đồ. Tháng 11/1947, kiến trúc sư của "giải pháp chuyển giao", Yosef Weitz, đã phát biểu rằng, sự TƯỚC ĐOẠT tập thể người Palestine là một điều không thể tránh khỏi vì tỷ lệ sở hữu đất cao của người Palestine. Ông nói:
"[phần lớn đất đai] không phải do người Do Thái sở hữu hoặc thậm chí trong phạm trù nhà nước mà quyền sở hữu có thể tự động được thừa nhận bởi chính phủ kế tiếp. Như vậy, trong số 13,500,000 dunum (6,000,000 trong đó là sa mạc, và 7,500,000 dunum là đất trồng trọt được) của nhà nước Do Thái theo kế hoạch Phân Chia, chỉ có 1,500,000 dunum là do người Do Thái sở hữu. " (Trục xuất người Palestine, tr. 182)
  • Có ai có thể hợp pháp hóa sự ăn cắp trắng trợn các ngôi nhà, ôtô, ngân hàng, trường học... v.v. của người New York Hoa Kỳ, bởi vì những người Do Thái Hoa Kỳ là những người đã chuyển đổi thành phố New York thành trung tâm công nghiệp và tài chính của thế giới? Không chỉ người Mỹ gốc Do Thái là cộng đồng thiểu số lớn nhất ở thành phố New York, họ gần như xây dựng chúng từ con số 0. Hay nói cách khác, nếu một lý luận như thế biện minh cho việc tước đoạt và tẩy máu dân tộc Palestine, tại sao nó không phải là một lý luận tốt cho việc tước đoạt tập thể và tẩy máu dân cư Mỹ không có gốc Do Thái ở thành phố New York?

Mặc dù dối trá trắng trợn, huyền thoại vô căn cứ này cố gắng vẽ lên một cảnh tượng lãng mạn cho "Miền đất hứa", tức là nó khô cằn trong 2000 năm, cho tới khi "những người Do Thái trở lại" làm cho sa mạc "nở hoa". Thật đáng buồn khi thấy huyền thoại này lan xa thế nào trong xã hội và hệ thống trường học Israel nhằm hợp pháp hóa sự chiếm đoạt tập thể người Palestine.