Hiển thị các bài đăng có nhãn Obama. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Obama. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2017

Obama ở Hiroshima: một minh chứng cho sự giả tạo


Nhân chuyến thăm của tổng thống Obama, tôi dịch bài Obama in Hiroshima: A Case Study in Hypocrisy ,của Eric Draitser  đăng trên CounterPunch, ngày 25/5/2016.

Tổng thống Obama tiến tới Nhật Bản tuần này cho một cuộc viếng thăm lịch sử tới Hiroshima, địa điểm của vụ sử dụng vũ khí hạt nhân đầu tiên trên thế giới, và là một trong những hành động nhục nhã lâu dài nhất của Hoa Kỳ. Truyền thông doanh nghiệp hoan hô chuyến thăm như là một bước đi quan trọng trong việc củng cố quan hệ song phương giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản. Thực tế đương nhiên là Hoa Kỳ tìm cách tái khẳng định sự bá quyền của nó ở khu vực châu Á Thái Bình Dương đang chứng kiến sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc.

Tuy nhiên, việc đến Nhật Bản của Obama cũng làm nổi bật thái độ giả tạo và bỉ ổi của những nhà làm chính sách của Hoa Kỳ, và bản thân tổng thống Obama, khi bàn về những vấn đề xã hội quan tâm. Ông ta không được mong chờ xin lỗi chính thức cho việc tàn sát không cần thiết 200,000 công dân Nhật Bản (phần lớn là dân thường), cũng như ông ta sẽ không nói về những tác động lâu dài liên quan tới chính sách của chiến tranh như là việc chiếm đóng Okinawa của quân đội Hoa Kỳ trái với quyền lợi nhân dân.Thật ra, dường như Obama không có vẻ gì đề cập tới bất kỳ điều gì bản chất. Nhưng thực tế có nhiều chủ đề xứng đáng để khảo cứu kỹ lưỡng.

Trước tiên hết, ta cần phải xét sự kiện Hoa Kỳ vẫn duy trì sự hiện diện quân đội thường trực trong suốt 70 năm ở Nhật Bản, điều này bị phần lớn người dân Nhật Bản chửi rủa nặng nề, đặc biệt là các công dân ở Okinawa, những ngươi thường xuyên và liên tục biểu tình phản đối sự chiếm đóng của Hoa Kỳ. Và khi Obama và người đồng cấp, thủ tướng Nhật Shinzo Abe sẽ thảo luận tình hữu nghị và đối tác không ngừng giữa hai nước, thực tế nó vẫn là mối quan hệ ông-chủ-khách-hàng. Có thể sẽ có nhiều thảo luật về quá khứ, hiện tại và tương lai, nhưng không có bất kỳ sự thừa nhận tội lỗi nào về phía Hoa Kỳ cho những tội ác chiến tranh kinh tởm của nó cũng như về Nhật, sự xâm lược không bị ngăn cản chống lại Trung Quốc, Triều Tiên và phần còn lại của châu Á Thái Bình Dương. Như là Kurt Vonnegut đã nói, "Cuộc sống là thế."

Điều thú vị là vấn đề vũ khí hạt nhân có lẽ cũng không được bàn một cách thực chất. Thực tế có thể sẽ có vài thảo luận về chủ đề theo ngôn ngữ chung chung, nhưng nó sẽ được che đậy trong lối tu từ kiểu Obama, đặc trưng hoa mỹ nhưng hoàn toàn trống rỗng. Có cơ hội, có thể một phóng viên dũng cảm sẽ mạo hiểm hỏi tổng thống tại sao ông đã chủ trì chính quyền chi hơn 1 nghìn tỷ đô-la nâng cấp, hiện đại hóa và mở rộng kho vũ khí hạt nhân của Hoa Kỳ, trong khi ông giành được giải Nobel Hòa Bình cho "những nỗ lực phi thường nhằm củng cố ngoại giao và hợp tác quốc tế giữa[và] tầm nhìn và hoạt động cho một thế không có vũ khí hạt nhân."

Có thể thậm chí khó chịu hơn là câu hỏi vì sao một tổng thống được cho là chống-hạt-nhân,  người đã đánh bóng nên thơ về việc giải trừ quân bị khi còn là sinh viên ở Đại học Columbia, lại dành tới hai nhiệm kỳ tổng thống để cung cấp hàng chục tỷ đô-la hỗ trợ Israel trang bị vũ khí hạt nhân, tăng lượng viện trợ của Hoa Kỳ cho Tel Aviv tới cấp độ lịch sử. Năm 2014, chính quyền Obama hăng hái ký một thỏa thuận hạt nhân với Vương quốc Anh, mà theo bản thân Obama, "thỏa thuận nhằm tiếp tục duy trì lâu dài sức mạnh hạt nhân trong tương lai trước mắt... [Hoa Kỳ cần phải giúp Anh] trong việc duy trì một khả năng ngăn chặn hạt nhân đáng tin cậy." Quá nhiều cho việc giải trừ quân bị.

Và trong khi Obama và nhóm diễn viên chính trị của ông ta đẽo gọt tài sản thừa kế chống hạt nhân của ông ta với việc mạn đàm về thỏa thuận hạt nhân với Iran, một nước không có vũ khí hạt nhân, sự bỉ ổi là không thể bỏ qua. Obama thực tế đã làm mọi thứ để đẩy nhanh phát triển hạt nhân bao gồm hệ thống "phòng thủ" tên lửa mới tuyệt đối điên rồ của Hoa Kỳ ở Đông Âu, điều đó, gần như theo định nghĩa, ép buộc Nga phải nâng cấp và mở rộng kho vũ khí của riêng họ, bao gồm kho dự trữ hạt nhân (vẫn là lớn nhất thế giới) như một phương án trả đũa.

Và khi đó có vấn đề cộm cán về nhiễm xạ, nhưng luôn bị né tránh: Fukushima. Việc tiếp tục che đậy những gì đang diễn ra ở Fukushima ngấm ngấm ở đằng sau tất cả thảo luận về vấn đề hạt nhân và Nhật Bản. Không ai sẽ nín thở chờ đợi thậm chí một tiếng thì thầm về thảm họa môi trường vẫn tiếp tục lan ra, cái mà chính phủ Nhật Bản đã nỗ lực hết sức để cho mọi thứ trở thành dĩ vãng.

Thay vì xin lỗi chính thức người dân Nhật Bản cho những tội ác nghiêm trọng của chính quyền Hoa Kỳ, Obama sẽ dàn xếp luận điểm của ông ta là "nhìn về phía trước, không phải lùi lại phía sau", một sự lảm nhảm rỗng tuếch, nó khiến người ta nhớ tới quyết định bị chửi rủa của Obama là không điều tra hay khởi tố chính quyền Bush về những tội ác liên quan tới tra tấn. Thay cho biểu hiện hối hận chân thành, Obama tặng thêm TPP và sự leo thang căng thẳng với Trung Quốc. Thay vì thúc đẩy hòa bình như mọi người có thể mong đợi từ người nhận giải thưởng Nobel Hòa bình, Obama sẽ tiếp tục bảo vệ "chiến lược xoay trục sang châu Á" của ông ta cái mang lại ít về tiến bộ mà rất nhiều là sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ.

Chuyến thăm của tổng thống Obama tới Nhật Bản, cũng như những thành công được cho là vĩ đại của ông ta ở Iran và Cuba, sẽ không thay đổi điều gì. Obama sẽ nói một vài từ, rồi rời khỏi Nhật Bản. Ông ta sẽ mau chóng rời khỏi văn phòng với một thế giới nguy hiểm hơn khi ông ta bước vào: nhiều vũ khí hạt nhân hơn, nhiều chiến tranh hơn, nhiều sự phá hủy hơn. Và điều này là từ tổng thống nhận giải Hòa bình của chúng ta.

Thông tin thêm về tác giả bài báo: Eric Draitser is the founder of StopImperialism.org and host of CounterPunch Radio. He is an independent geopolitical analyst based in New York City. You can reach him at ericdraitser@gmail.com.


Độc giả có thể đọc thêm bài Okinawa ngăn chặn sự xoay trục sang Châu Á của Obama, bản dịch của Hiệp sĩ cưỡi lừa.

Hoa Kỳ, NATO chuẩn bị các cuộc không kích và tấn công mặt đất mới nhằm vào Libya


Hoa Kỳ và NATO đang xem xét một đợt tấn công quân sự mới vào Libya, tổng thống Mỹ Barack Obama đã nói với truyền thông điều này ở ngoài Nhà Trắng hôm thứ Hai.

Obama đã đưa ra một bản tuyên bố tối nghĩa về tác động mà các hoạt động quân sự ở Libya đang trong các giai đoạn cao hoạch định. "Chúng tôi đang tiếp tục hợp tác trên cơ sở đang diễn ra về các hoạt động có khả năng trong các khu vực như Libya, nơi mà các bạn đang có những sự khởi đầu của một chính phủ," ông ta nói sau cuộc họp với Tổng thư ký NATO Jens Stoltenberg ở Nhà Trắng.

Obama nói thêm "Tôi nghĩ chúng tôi có thể cung cấp sự giúp đỡ khổng lồ trong việc ổn định những đất nước đó." "Đây rõ ràng là một thời gian đầy biến động trên thế giới. Châu Âu là tâm điểm của rất nhiều cố gắng và căng thẳng trong hệ thống an ninh toàn cầu," Obama nói.

Theo Reuters, các bài nói chuyện của Obama với Stoltenberg tập trung vào việc có thể leo thang của Hoa Kỳ và NATO ở Libya và các hoạt động phối hợp để ngăn chặn hậu quả phụ từ khủng hoảng di cư ở Đông Địa Trung Hải.

Stoltenberg ra hiệu rằng các lực lượng NATO đang ở trong tình trạng báo động cao cho các nhiệm vụ chống lại Libya. Ông ta nói "NATO sẵn sàng cung cấp sự hỗ trợ cho chính phủ mới ở Libya."

Cũng hôm thứ Hai, các chi nhánh truyền thông thuật lại rằng các nhà hoạch định quân sự Mỹ với Africa Command (AFRICOM, Bộ tư lệnh quân sự Hoa Kỳ về châu Phi, nhằm khống chế 53 nước châu Phi - ghi chú của N.D.) đang thảo một danh sách chi tiết các mục tiêu tấn công ở Libya, bao gồm các mục tiêu ở Ajdabiya, Sabratha và Derna.

Lầu Năm Góc "đang tìm các cải thiện sự phối hợp giữa các lực lượng vũ trang đặc biệt Hoa Kỳ và lực lượng đồng cấp Pháp và Anh, mà đã thành lập các đơn vị nhỏ trên mặt đất, tìm kiếm một phần sắp xếp đội hình lực lượng dân quân thân thiện," theo Washington Post.

Liên minh chính phủ mới ở Libya, được thành lập tháng 12 vừa rồi và được lãnh đạo bởi Faez al-Sarraj, được tạo ra với mục đích yêu cầu ngay lập tức sự trợ giúp quân sự từ các ông chủ đế quốc, một yêu cầu có thể được sử dụng để thanh minh cho sự tiếp tục mập mờ của "trát ủy nhiệm từ Liên hợp quốc" của các cường quốc phương Tây, cho phép tấn công bầu trời, biển và đất liền của Libya dưới tên gọi "an ninh quốc tế".

Các cường quốc Hoa Kỳ và châu Âu đang chuẩn bị cho việc can thiệp tập trung vào cuộc tấn công quyết liệt để lấy lại thủ đô Tripoli và kiểm soát an ninh về cơ sở hạ tầng dầu mỏ. Một khi của cải dầu mỏ giàu có của đất nước nằm trong tay một cách an toàn, Washington chuẩn bị chấp nhận sự chia cắt vĩnh viễn Libya thành một tác phẩm chắp vá các nhóm vũ trang với liên minh được Hoa Kỳ hậu thuẫn nắm quyền tối cao ở bộ phận nòng cốt của một nhà nước tập trung.

Như Washington Post đã viết hôm thứ Hai, "các quan chức Mỹ mường tượng một sự hấp thụ dần dần các lực lượng dân quân thành quân đội quốc gia mới hay ít nhất một mạng lưới các lực lượng bộ lạc hoặc khu vực được nhà nước hậu thuẫn."

Italia xuất hiện thiết lập giữ vai trò hàng đầu, cam kết đóng góp một nửa các nguồn lực cần thiết và chỉ huy cuộc xâm lược mặt đất đối với thuộc địa cũ của nó. Cuộc xâm lược được lên kế hoạch bao gồm hàng nghìn binh sĩ Ý, được hỗ trợ bởi hàng ngàn lính khác từ các cường quốc NATO khác, với tổng cộng 6,000 lực lượng mặt đất.

Theo Washington Post, cho tới nay, vẫn không có "cam kết quân sự cụ thể nào" để hỗ trợ liên minh chính quyền do NATO hậu thuẫn.

Tuy vậy, có những dấu hiệu rõ ràng cho thấy quân đội Mỹ được cam kết can thiệp sâu hơn trên mặt đất ở Libya như một phần của bước tiến các hoạt động vũ trang đặc biệt Hoa Kỳ trên khắp châu Phi. Libya chỉ là một trong một nắm các điểm nóng ở châu Phi, nơi Hoa Kỳ chuẩn bị cho "các giải pháp hoạt động vũ trang đặc biệt duy nhất," Tướng quân đội Mỹ Tony Thomas đã nói vậy với Quốc hội vào tháng Ba. Thomas nói, sau khi chiếm lấy về mặt lý thuyết thủ đô Tripoli, biệt kích Hoa Kỳ sẽ liên kết với các lực lượng chiến đấu đang hoạt động trong khu vực, tuyển dụng họ thành đồng minh cho chính phủ thống nhất non trẻ.

Kế hoạch cho các cuộc tấn công quân sự mới và xâm lược mặt đất đến 5 năm sau cuộc chiến tranh NATO đánh đổ Đại tá Muammar Gaddafi. Là một phần của hoạt động quân sự, Hoa Kỳ và các cường quốc châu Âu hậu thuẫn các lực lượng Hồi giáo cực đoan, bao gồm các phần tử Al Qaeda và tiền thân của Nhà nước Hồi Giáo. Chiến dịch ném bom sáu tháng của NATO đã biến các thành phố nguyên vẹn thành đống đổ nát.

Lực lượng dân quân chính thống Hồi giáo, mà các hoạt động đang tạo cớ giả định cho sự can thiệp của Hoa Kỳ và NATO, hiện ra từ các nhóm vũ trang và được tài trợ như một công cụ lật đổ Gaddafi và khởi động một đợt chiến tranh đế quốc mới xâm lược châu Phi và Trung Đông.

Như trang World Socialist Web Site đã ghi chú tháng Ba năm 2011, chừng nào chiến tranh vẫn còn tiếp tục, "cuộc cách mạng Libya" trong thực tế chỉ là cái vỏ của "việc cưỡng bức Libya bởi nghiệp đoàn các nước đế quốc xác định nắm lấy tài sản dầu mỏ của nó và biến lãnh thổ của nó thành cơ sở thuộc địa kiểu mới cho các hoạt động can thiệp xa hơn trên khắp Trung Đông và Bắc Phi."

Đối mặt với một tai họa gây ra bởi hành động của chính họ, các nước đế quốc một lần nữa đặt Libya vào tâm điểm, ngay cả khi họ mở rộng hoạt động quân sự ở Irak, Syria và xuyên khắp Trung Đông.


Hoa Kỳ tài trợ cuộc diệt chủng chống lại Irak 1990-2012, giết chết 3,3 triệu người, trong đó có 750,000 trẻ em



Nhân dịp tổng thống Mỹ Obama tới thăm Việt Nam, tôi dịch bài báo US Sponsored Genocide Against Iraq 1990-2012. Killed 3.3 Million, Including 750,000 Children, Statement by Professor Francis Boyle, Kuala Lumpur War Crimes Tribunal của Sherwood Ross đăng trên GlobalResearch ngày 6/12/2012.

Khoảng 3,3 triệu người Irak, baogồm 750,000 trẻ em đã bị "tiêu diệt" bởi các đòn trừng phạt kinh tế và/hoặc các cuộc chiến tranh bất hợp pháp được thực hiện bởi Hoa Kỳ và Vương quốc Anh giữa các năm 1990 và 2012, theo lời một cơ quan luật pháp quốc tế nổi tiếng.
Việc tàn sát phù hợp với định nghĩa cổ điển của Điều II Công ước Diệt chủng "Cố ý áp đặt lên nhóm các điều kiện sống có tính toán để dẫn tới sự phá hủy về vật lý trong toàn bộ hoặc bộ phận", theo lời của Francis Boyle, giáo sư luật quốc tế ở Đại học Illinois, Champaign, và là người đã đệ đơn khiếu nạn lên Liên hợp quốc để chống lại Tổng thống George H. W. Bush năm 1991.
Hoa Kỳ và Anh "ngoan cố nhấn mạnh" rằng lệnh trừng phạt của họ vẫn được giữ nguyên cho tới sau cuộc xâm lược Vùng Vịnh II "bất hợp pháp" gây ra bởi tổng thống George W. Bush và thủ tướng Anh Tony Blair tháng Ba 2003, "không phải với quan điểm làm giảm bớt sự đau khổ kéo dài cả thập kỷ của nhân dân và trẻ em Irak" mà là "để tạo điều kiện dễ dàng hơn cho Hoa Kỳ/Anh cướp bóc và chiếm đoạt nền kinh tế Irak và các lĩnh vực dầu mỏ mà không bị giám sát, bằng cách vi phạm luật pháp quốc tế về chiến tranh cũng như gây phương hại nghiêm trọng tới nhân dân Irak", theo lời Boyle.
Trong một bài diễn văn ngày 22/11 vừa rồi ở Hội nghị quốc tế về Trẻ em bị ảnh hưởng chiến tranh ở Kuala Lumpur, Malaysia, Boyle đã đếm số người chết ở Irak gây ra bởi Hoa Kỳ và Anh như sau:

#  Tàn sát 200,000 người Irak bởi tổng thống Bush trong chiến tranh Vùng Vịnh I bất hợp pháp của ông ta năm 1991.

# 1,4 triệu người Irak chết là kết quả của cuộc chiến tranh xâm lược bất hợp pháp năm 2003 phát động bởi tổng thông Bush và thủ tương Blair.

# 1,7 triệu người Irak chết là "hệ quả trực tiếp" của các lệnh trừng phạt diệt chủng.

Đơn kiện của Boyle yêu cầu chấm dứt tất cả các lệnh trừng phạt kinh tế chống Irak; biên bản tội ác các hành động diệt chủng của tổng thống Bush; đền bù bằng tiền cho trẻ em Irak và gia đình của họ cho những người đã chết, tổn thương tâm lý và cơ thể; vận chuyển khối lượng lớn hàng viện trợ cho đất nước đó.
Boyle chỉ ra rằng Liên hợp quốc "cực kỳ đạo đức giả" đã từ chối chấm dứt các lệnh trừng phạt, thậm chí ngay cả khi báo cáo của Tổ chức Nông nghiệp và Thực phẩm của nó ước tính rằng quãng năm 1995 các lệnh trừng phạt đã giết chết 560,000 trẻ em Irak trong suốt 5 năm trước.
Boyle ghi chú rằng ngoại trưởng Hoa Kỳ Madeleine Albright được phỏng vấn trên CBS-TV ngày 12/5/1996 đáp lại câu hỏi của Leslie Stahl phải chăng nửa triệu trẻ em chết là đáng giá, "chúng tôi (chính quyền Hoa Kỳ) cho rằng cái giá đó là có giá trị."
Boyle nói rằng câu trả lời gây sốc của Albright cung cấp "bằng chứng xác thực về ý định diệt chủng của chính quyền Hoa Kỳ chống lại Iraq" theo Công ước Diệt chủng, đồng thời thêm rằng chính quyền Iraq ngày nay có thể mang các hành động pháp lý tới Tòa án Tư pháp Quốc tế chống lại Hoa Kỳ và Anh. Ông nói cuộc diệt chủng của Hoa Kỳ và Anh cũng vi phạm hệ thống pháp lý của tất cả các quốc gia văn minh trên thế giới; Công ước 1989 về Quyền trẻ em; và công ước Geneva IV năm 1949, và Nghị định thư bổ sung 1 năm 1977.

Boyle đã bị lay động dẫn tới các hành động cho cộng đồng từ Những Người Mẹ ở Iraq sau các lệnh trừng phạt kinh tế áp đặt lên họ bởi Hội đồng bảo an tháng 8/1990, nhằm đáp lại áp lực từ chính quyền Bush. Ông là tác giả của rất nhiều cuốn sách về các vấn đề quốc tế, bao gồm "Phá hoại trật trự thế giới" (NXB Clarity Press.)