Hiển thị các bài đăng có nhãn Palestine. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Palestine. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2017

Israel ăn cắp nước của người Arab và Palestine


Có nhiều bài báo tiếng Việt ca ngợi huyền thoại nông nghiệp phi thường của Israel trên sa mạc, ví dụ bài báo sau trên cafebiz.vn, tuy vậy người Palestine đã làm "nở hoa" sa mạc từ trước người Israel rất lâu, với sản lượng nông nghiệp đáng nể. Sau đây là bản dịch bài báo Israel is stealing Palestinian and Arab Water của Sawsan Ramahi, đăng ngày 23/3/2010. Bài báo chỉ ra Israel dùng quân sự để cướp bóc tài nguyên nước của người Palestine và Arab; đồng thời sử dụng hết sức lãng phí tài nguyên nước, trái ngược với các huyền thoại hay gặp về Israel mà báo chí doanh nghiệp vẫn thường xuyên ca ngợi. Một mặt khác, bài báo cũng chỉ ra sự vô nhân đạo của chính quyền Israel khi cố tình đẩy dân tộc Palestine tới con đường diệt vong.


Ngày Nước Thế Giới đang tới gần chúng ta. Được sáng lập bởi Liên hợp quốc năm 1992 trong hội nghị ở Liên hợp quốc về môi trường và phát triển, ngày 22/3/1993 được chọn là ngày quốc tế đầu tiên cho nước nhằm kêu gọi sự chú ý tới tầm quan trọng của nước sạch và tính khả dụng của nó. Từ đó, lễ kỷ niệm của ngày đặt trọng tâm hàng năm lên một khía cạnh khác nhau của các khó khăn mà người dân đối mặt trong việc nhận nguồn nước sạch.

Không có gì nghi ngờ về chuyện lợi ích của Liên hợp quốc trong vấn đề này là rất quan trọng, mặc dù toàn thế giới cần phải làm nhiều hơn, chứ không chỉ đơn thuần có một ngày kỷ niệm hàng năm về vấn đề này. Điều cần phải làm đối với Liên hợp quốc là cần phải chấm dứt sự độc quyền nước bởi bất kỳ quốc gia nào có các nguồn nước trong phạm vi biên giới của nó và chấm dứt việc làm chệch dòng và ăn cắp nước từ các vùng đất bị chiếm đóng.

Khi một nước xâm lược khai thác các tài nguyên của vùng đất bị chiếm đóng gây hại cho người bản địa, nó xây dựng bản thân nó trên sự đổ nát của cái nó đã phá hủy, và việc ăn cắp các tài nguyên như thế là rõ ràng, thậm chí ngay cả khi kẻ chiếm đóng tìm cách che giấu hành động của họ đằng sau các nguyên lý cao quý. Hành động bất lương này trở nên tồi tệ hơn khi khẳng định vùng đất đang xét là một món quà từ Chúa và  các huyền thoại có động cơ chính trị như nó là "một vùng đất không dân tộc cho một dân tộc không có đất". Khi điều sai trái đó được pha chế thậm chí xa hơn bởi các hành động diệt chủng chống lại người bản địa, giết chết hàng nghìn và trục xuất hàng trăm nghìn người trong các hành vi thanh lọc sắc tộc, tình hình là thực sự rất nghiêm trọng. Sau những cố gắng phá hủy những thứ thiết yếu cho cuộc sống của những người dưới sự chiếm đóng, kẻ xâm lược tìm cách khống chế thứ thiết yếu chính, đó là các nguồn nước. Sự thôn tính và kiểm soát nước trong lãnh thổ Palestine bị chiếm đóng luôn luôn song hành với việc thuộc địa hóa vùng đất, một trong những ưu tiên của Israel.

Mục tiêu lâu dài này của nhà nước Do Thái được xác nhận bởi các tài liệu tin cậy công bố bởi Văn phòng Đối ngoại nước Anh (British Foreign Office), trong đó, David Ben-Gurion viết năm 1941 rằng "Chúng ta phải nhớ rằng để cho nhà nước Do Thái có thể sống sót, cần phải có bên trong đường biên giới của nó nguồn nước của [các sông] Jordan và Litani."

Israel kiểm soát nước của người Arab

Từ năm 1948, các nhà cầm quyền Israel đã tìm cách kiểm soát phần lớn các tài nguyên nước ở Palestine. Sau chiến tranh 1967, Israel chiếm được sự kiểm soát các nguồn nước chính của người Arab ở Trung Đông:
1. Lưu vực Sông Jordan thượng, bắt nguồn từ Lebanon và Syria:
Israel chiếm đoạt Sông Jordan và trữ nước của nó ở hồ Tiberius (biển hồ Galilee), sau đó vận chuyển nước từ phía bắc về phía nam để cung cấp cho các khu vực khác nhau của Israel. Israel lấy 60% lượng nước này , trong khi Jordan lấy 25% và Syria 15%, mặc dù nguồn nước nằm trong biên giới Syria. Đồng thời nó cũng ngăn cản người Palestine tiếp cận Sông Jordan, phá hủy tất cả các máy bơm của họ trên sông và đuổi nông dân.
2. Hệ quả của việc làm chệch dòng nước của Israel là đất ở hai bên bờ bị ảnh hưởng, khi lượng muối trong nước tăng đáng kể.
3.  Lưu vực Sông Yarmouk được chia sẻ giữa Jordan và Syria:
Khi Israel chiếm đóng Cao nguyên Golan, nó ngăn cản Syria hưởng lợi từ nguồn nước của chính Syria; ngày nay, 30% nước của Israel đến từ Cao nguyên Golan. Đồng thời nó chiếm đoạt nguồn nước của Syria ở lưu vực Sông Yarmouk. Cao nguyên Golan là nguồn nước chính chảy vào Sông Jordan và biển hồ Tiberius, cung cấp nước cho Syria, Jordan và Palestine; đó là lý do vì sao Israel từ chối từ bỏ các nguồn nước này trong bất kỳ đàm phán nào với Syria.
4. Các tầng chứa nước ngầm rộng lớn ở Bờ Tây, được biết tới là Tầng chứa của Núi và Mountain-Well; những người Palestine đã không thể tiếp cận tới chúng từ năm 1967.
·        Khi Israel xâm lược Lebanon năm 1978, nó kiểm soát gần 30% Sông Litani, và trong suốt quá trình chiếm đóng Lebanon năm 1982, người Israel hưởng lợi từ nguồn nước của sông Wazzani và Litani, chuyển nước từ đó về Israel, đồng thời tống cổ các nông dân Lebanon phụ thuộc vào nguồn nước này.
·        Năm 1989, người Israel lợi dụng nguồn nước sông Wazzani và Hasbani bằng cách lắp đặt ống dẫn nước cho chính họ, mặc dù rút quân khỏi Lebanon năm 2000, nhưng vẫn còn nhiều giếng phun Israel ở trên biên giới làm giảm nguồn nước ngầm ở lãnh thổ Lebanon.
·        Israel sử dụng nhiều phương tiện kiểm soát nước ở Sông Nile, dài 6825km và có hai nguồn chính; Khu vực các hồ xích đạo Nam Sudan và cao nguyên Ethiopia. Israel thi thoảng cố gắng hợp tác với Ethiopia để xây đập và các phương tiện khác để kiểm soát nguồn nước sông Nile, tìm cách hạn chế việc chia sẻ nước của Ai Cập và gây áp lực nhằm bảo đảm việc chia sẻ nguồn nước sông Nile. Điều này đã bị vạch trần bởi các quan chức cấp cao.

Kiểm soát nước ở Bờ Tây và Gaza, khủng hoảng nước đe dọa người dân ở đó

Từ khi Israel bắt đầu chiếm đóng Bờ Tây và Dải Gaza, nó cố gắng tiếp tục giữ kiểm soát tài nguyên nước và nước bị nắn dòng từ lãnh thổ Palestine tới các thành phố và khu vực chiếm đóng dựng lên từ đống đổ nát của các thành phố Palestine bị phá hủy năm 1948.

Abdel-Rahman Tamimi, một chuyên gia về nước, nói rằng cuộc chiến về nước với sự chiếm đóng bắt đầu từ rất sớm, cùng với các lệnh quân sự và kiểm soát có hệ thống các lưu vực nước, giếng và suối, kể từ khi sự chiếm đóng Bờ Tây bắt đầu năm 1967. Theo ông Tamimi, các nguồn nước được đặt dưới sự kiểm soát của Chính quyền dân sự Israel (Israel Civil Administration) trong những năm 1970, và thậm chí sau hiệp định Oslo, chúng vẫn nằm dưới sự kiểm soát của Israel, "làm trầm trọng thêm các vấn đề về nước ở Bờ Tây."

Dải Gaza phụ thuộc vào tầng dự trữ nước ngầm ven biển nằm dưới Biển Địa Trung Hải, giữa Rafah ở phía Nam và Bắc của Núi Carmel, với tổng diện tích là 2200km2, trong đó 400 km2 nằm ở mặt dưới Dải Gaza. Nguồn nước ngầm này độc lập trên quy mô lớn với nguồn nước ngầm trong Israel bởi dòng nước chảy theo hướng Đông-Tây vào trong tầng chứa; vì vậy, lượng nước khả dụng cho người Palestine trong Dải Gaza là đủ dùng nếu Israel không tịch thu hơn 80% lượng nước ngầm của người Palestine để cấu thành 20% tổng lượng nước tiêu thụ, 2 tỷ mét khối/năm, của người Israel. Do điều này, ước tính rằng nguồn nước ngầm sạch sẽ khô kiệt trong vòng 8 năm tới.

Nhà chức trách về nước của Palestine đã giải thích rằng Dải Gaza chịu đựng sự thiếu hụt nước hàng năm lên tới 70 triệu mét khối, đồng thời ghi chú rằng do gia tăng dân số tự nhiên ở trong Dải, bây giờ có hơn 1 triệu rưỡi người phụ thuộc vào một nguồn nước duy nhất, đó là tầng ngậm nước ven biển, để đáp ứng nhu cầu.  Nhà chức trách cũng đề cập tới tác động tiêu cực lên chất lượng nước ngầm, do nước biển xâm nhập, gây ra độ mặn cao và thêm vào sự tập trung cao nitrát trong nước, gây ra bởi sự rò rỉ nước cống và ngầm trở lại của nước tưới nông nghiệp.

Báo cáo của nhà chức trách nói rằng 90-95% nước ngầm được sử dụng cho mục đích gia đình không phù hợp cho tiêu dùng của con người, và không đáp ứng các tiêu chuẩn của Tổ chức y tế thế giới WHO về nước uống, về cả chất lượng và số lượng, điều này cấu thành một sự đe dọa thực sự đối với sức khỏe và là nguyên nhân của nhiều bệnh tật ảnh hưởng tới người dân ở Dải Gaza.

Nhà chức trách nói rằng tỷ lệ nước khả dụng cho một người một ngày là khoảng 80 lít, tương đương với một nửa theo khuyến cáo của WHO.

Bờ Tây phụ thuộc vào các giếng phun cho mục đích ăn uống và nông nghiệp. Dung tích nước chảy và các suối nước ở bờ Tây lên xuống trong khoảng 30-50 triệu mét khối hàng năm, theo ước lượng của nhiều chuyên gia. Các suối ở Bờ Tây được ước lượng có dung tích chừng 75-115 triệu mét khối. Điều này là trước khi Israel bắt đầu sử dụng 730 giếng ở Bờ Tây cho các mục đích khác nhau. Bây giờ là 214 giếng, trong đó chỉ có 20 giếng được dùng cho mục đích hộ gia đình, vận hành với dung tích sản xuất được thiết lập bởi chính quyền Israel vào khoảng 37,9 triệu mét khối/năm. Các giếng còn lại đã khô cạn do việc bơm từ các giếng sâu được đào bởi các cơ quan quân sự Israel, hoặc do bị bỏ hoang.

Tỷ lệ nước tiêu thụ của các công dân Israel là 344 triệu mét khối/năm, trong khi lượng tiêu thụ của người Palestine là 93 triệu mét khối/năm. Lượng tiêu thụ nội địa của người Israel lên đến 98 triệu mét khối, trong khi với người Palestine, nó chỉ là 56 triệu mét khối/năm. Rõ ràng là người Israel sử dụng và lãng phí nhiều nước hơn bất kỳ ai khác trong khu vực.

Một nghiên cứu về vấn đề này được thực hiện bởi viện Palestine về Nghiên cứu Chính sách Kinh tế (MAS), soạn bởi  Anna Yayyousi, một giảng viên ở khoa Kỹ sư ở đại học Al-Najah, chuyên gia về vấn đề nước, và Fathi Srougi, một chuyên gia về các vấn đề địa chính trị liên quan tới nước.

Jayyousi đề cập tới thể tích các nguồn nước ở Palestine lịch sử, được ước tính bởi những nhà thủy học Israel là vào khoảng 2250 triệu mét khối nước có thể thay mới, và bao gồm 3 tầng dự trữ ở khu vực Bờ Tây, sản xuất ra 679 triệu mét khối nước. Theo luật quốc tế, lượng nước này thuộc về người Palestine, nhưng họ chỉ lấy được 118 triệu mét khối. Hay nói cách khác, người Palestine chỉ lấy được có 15% lượng nước của chính họ, trong khi đó, phần còn lại được tiêu thụ bởi người Israel.

Liên quan tới việc sử dụng nước cho mục đích nội địa, Jayussi đã nói, "Lượng cung cấp ước tính vào khoảng 130 triệu mét khối ở Bờ Tây và Dải Gaza; nghĩa là lượng nước cung cấp cho một người trung bình là vào khoảng 97 lít/ngày. Tuy nhiên, thực tế lượng tiêu thụ thực sự không tới 70 lít/ngày, do tỷ lệ cao của nước bị lãng phí." Điều này là do việc bảo trì quá chậm  trên mạng lưới đường ống, trong nhiều lý do khác nhau. Jayussi ước lượng việc sử dụng bởi khu vực công nghiệp là vào khoảng 9 triệu mét khối nước hàng năm.

Trong khu vực nông nghiệp, nghiên cứu cho thấy lượng đất trung bình được tưới cho một cá nhân là chỉ 0,071 dunam (tức 1000 mét vuông). Hơn nữa, việc sử dụng nước cho tưới tiêu không vượt quá 45 mét khối một người, ít hơn tỷ lệ hiện hành ở Jordan và Israel.

Cần phải chú ý rằng Israel không cho phép người Palestine kiểm soát nước của họ theo nhu cầu của họ, mà trói buộc họ vào những nghị quyết, thông qua đó, nhà nước Do Thái:

1. Hạn chế lượng rút nước tới không quá 100 mét khối một giờ.
2. Hạn chế độ sâu của các giếng khoan tới 140 mét, yêu cầu các loại máy bơm cũ được cho phép ở Bờ Tây, cốt là để hạn chế dung tích hút nước khỏi các giếng này.
3. Đã đào các giếng lớn trong các khu vực chiến lược nơi nước tích tụ ngang qua Bờ Tây và Dải Gaza nhằm ăn cắp nước của người Palestine (60 giếng ở Bờ Tây, 43 ở Dải Gaza, và 26 dọc ranh giới đình chiến giữa Gaza và Israel).
4. Đã thông qua một chiến lược xây dựng những đập nhỏ để ngăn dòng chảy nước mặt tự nhiên vào các khu vực Palestine, do đó cho phép chuyển nước có chất lượng cao từ khu vực Israel chiếm đóng trong lãnh thổ Palestine vào các thành phố Israel, hoặc bán chỗ nước này cho người Palestine.
5. Xây khu định cư để cho họ ở trong các khu vực với các tầng dự trữ nước ngầm có chất lượng cao nhất, cho phép Israel cướp lấy nước một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, một chính sách dẫn tới sự cạn kiệt nước ngầm ở Dải Gaza.
    
Theo một nghiên cứu của Trung tâm Thông Tin Palestine, 150 cộng đồng Palestine ở Bờ Tây không thuộc vào mạng lưới phân phối nước. Phần lớn cư dân ở những cộng đồng này chịu đựng việc thiếu nước.

Hebron là một hình mẫu

Thành phố Hebron ở phia Nam của Bờ Tây được coi là thành phố Palestine túng quẫn nhất xét về độ thiếu nước, ở đây một người Palestine trung bình tiêu thụ khoảng 10 lít nước một ngày cho những chu kỳ dài.

Vấn đề nước ở Hebron chủ yếu là hệ quả của việc kiểm soát các lưu vực nước bởi chính quyền chiếm đóng Israel; người Palestine không được phép đào giếng và người Israel không cung cấp lượng nước tối thiểu cho nhu cầu hàng ngày. Một ví dụ minh hoạt các biện pháp mà Israel sẵn sàng sử dụng: quân đội Israel đột kích 4 công dân từ làng Soba, phía tây Hebron khi họ đang khoan giếng để lấy nước mưa; họ bị bao vây và bị bắt, thiết bị của họ bị tịch thu; họ bị phạt và cuối cùng được thả với lệnh nghiêm khắc cấm khoan trở lại.

Abdel-Rahman Rajoub bình luận về việc này: "Điều lạ lùng là một trong những người bị giam đã nói rằng họ đã nói với điều tra viên trong suốt 8 ngày họ bị giam là việc khoan chỉ là với mục đích thu nước mưa. Viên sĩ quan buộc tội họ 'ăn cắp nước ngầm' và nói với họ là việc thu lại nước mưa là 'bị cấm'."

Các hồ nước ở Hebron bị phá hủy

Ở phía đông của Hebron, quân đội Israel phá hủy bốn hồ nước lớn tập trung nước và cướp đoạt một diện tích lớn đất đai nông nghiệp nước tưới, gây ra sự mất mát lớn cho nhiều nông dân. Một vài người đã nói điều này là "nhằm quấy rầy người Palestine và ép buộc họ rời khỏi khu vực, nhằm dọn dẹp cho việc xây dựng khu định cư."

Cư dân ở vùng đất màu mỡ này đã dùng tới việc đục lỗ trên ống nước để lấy nước cần thiết cho việc tưới tiêu mùa màng của họ, mặc dù điều này gây hại cho nước uống của họ.

Ảnh hưởng của việc xây dựng bức tường trên các nguồn nước ở Bờ Tây

Ngoài các chiến thuật đã nói ở trên về việc người Israel chiếm đoạt nguồn nước của người Palestine, chính quyền chiếm đóng đã sử dụng "bức tường phân chia" bất hợp pháp để đảm bảo nó kiểm soát được 3 trong các lưu vực nước quan trọng nhất của người Palestine, tước đoạt của người Palestine quyền tiếp cận nguồn nước, nhằm gửi chỗ nước này tới khu chiếm đóng. Khi việc xây dựng của cái cơ bản được gọi là bức tường apartheid tiếp tục diễn ra ở Bờ Tây, các nguồn chính thức của Palestine xác nhận rằng nó sẽ sáp nhập vào Israel khoảng 95% lượng nước có thể tiếp cận được ở lưu vực phía tây, ước lượng khoảng 362 triệu mét khối.

Khu vực bị cô lập ở sau phần phía tây của bức tường nằm ở trên hai lưu vực; lưu vực phía tây và lưu vực phía đông bắc, có dung tích hàng năm ước lượng vào khoảng 507 triệu mét khối. Khu vực bị cô lập ở phía đông nằm hoàn toàn trên lưu vực phía đông có dung tích vào khoảng 172 triệu mét khối hàng năm. Nước được rút  từ các tầng ngậm nước này bằng cách bơm từ giếng hoặc từ suối tự nhiên. Số lượng ước tính các giếng ngầm ở khu vực là 165 với dung tích bơm 33 triệu mét khối/năm; số suối được ước tính là 53 với dung tích 22 triệu mét khối/năm.

Ở các tỉnh Jenin, Qalqilya và Tulkarem, vùng đất bị sáp nhập bởi bức tường là tương ứng với các vị trí nước ngầm, nghĩa là tất cả các tầng dự trữ nước ngầm nằm ở mặt trái của bức tường, tức phía Israel của bức tường. Nó vô hiệu hóa cố gắng của người Palestine trong việc rút nước từ các tầng dự trữ đó; như vậy, bức tường đe dọa dẫn tới diệt vong nền nông nghiệp tưới tiêu ở phía bắc Bờ Tây.

Theo báo cáo của Cơ quan nước Palestine, bức tường đã dẫn tới mất khả năng tiếp cận 36 giếng của người Palestine, bao gồm 23 cái được đặt ngay trên tuyến đường của bức tường, và 13 cái khác gần đó đã được dùng cho nông nghiệp và ăn uống; các giếng này nằm giữa bức tường và "Tuyến Xanh" cũ (ranh giới đình chiến 1967). Các giếng trước thường bơm khoảng 55 triệu mét khối nước hàng năm, khoảng 25% tổng lượng nước rút ra từ tầng dự trữ phía tây. Chính quyền chiếm đóng cũng đang tìm kiếm xuyên tuyến đường của bức tường để chiếm đoạt hơn 400 mét khối cấu thành dung tích toàn bộ nước ngầm làm mới lưu vực phía Tây, trong đó phần lớn được tích tụ ở trong biên giới Bờ Tây Palestine.

Sự ô nhiễm các tầng dự trữ nước ngầm ở Bờ Tây và Dải Gaza

Israel bòn rút nước ngầm của người Palestine, dẫn tới tăng mức độ muối, nitrat, và chloride, cũng như nhiễm các kim loại nặng như đồng và chì, cho thấy nó không phù hợp với việc ăn uống hoặc nông nghiệp. Việc vắt kiệt các giếng nước cũng gây ra rò rỉ nước mặn vào trong nước ngầm sạch ở Bờ Tây; ở Dải Gaza, nước biển đã lọt vào lưu vực nước ngầm để lấp khoảng rỗng.

Lan truyền bệnh tật

Bộ Y tế Palestine xác nhận kết quả kiểm tra cho thấy nước ở mạng lưới đã bị ô nhiễm thường xuyên, dẫn tới sự lan tỏa bệnh tật trong dân chúng. Phân tích đã cho thấy mối liên hệ giữa ô nhiễm nước và lan tỏa bệnh tật, ví dụ như sốt thương hàn, viêm màng não, bệnh dịch tả. Một viên chức ở ủy ban giam sát Bộ Y tế đã xác nhận rằng họ đang kiểm tra các nguồn nước liên tục, xem có dùng để ăn uống, làm nông nghiệp hay mục đích khác được không. Ông nói, "Hiện đang có một quá trình lọc và làm sạch nước ở các giếng, nhằm làm giảm bớt sự ô nhiễm và mức độ muối ở trong nước." Ông nói thêm, các lực lượng an ninh Israel cản trở hoặc ngăn chặn việc thực thi nhiều dự án có khả năng giải quyết vấn đề này.

Kết luận

Từ những điều trên, ta thấy rằng Israel là nguyên nhân của cuộc khủng hoảng nước cho người Palestine nói riêng và người Arab nói chung, một sự kiện mà nhà nước Do Thái từ chối thừa nhận. Israel sẽ tiếp tục kiểm soát các nguồn tài nguyên nước với các kế hoạch của nó, đặc biệt là nó tìm cách thu hút một số lượng người nhập cư Do Thái lớn chưa từng có.

Tiếc là hiệp định Oslo đã trì hoãn các đàm phán về vấn đề nước cho tới hiệp định "ở trạng thái cuối cùng" được mong đợi, một sai lầm trong nhiều sai lầm về phía đàm phán Palestine. Bằng việc đồng ý trì hoãn xem xét các vấn đề quan trọng nhất cho tới các buổi nói chuyện "ở trạng thái cuối cùng" (bao gồm tình trạng của Jerusalem, sự trở lại của người tị nạn cũng như vấn đề nước), họ đã cho phép Israel đưa vào nhiều sự thay đổi và "sự kiện trên mặt đất" mà người Palestine chỉ có thể chấp nhận.

Nhà nước Do Thái tránh thảo luận các vấn đề cốt lõi như vấn đề nước của người Palestine và cố gắng loanh quanh tránh trọng tâm cho các giải pháp dài hạn như việc tìm các nguồn nước thay thế, cây trồng khử muối, và giảm lượng nước dùng cho nông nghiệp.

Điều đáng nhớ là trừ những đề nghị bao gồm sự kiểm soát của Palestine đối với các tài nguyên nước của chính họ, hoàn toàn vô ích khi nói chuyện về một nhà nước Palestine độc lập, với chủ quyền thực sự đối với không phận, đất liền và biển của nó. Cũng vô ích khi xem xét đạt được hòa bình thực sự.


Liên hợp quốc nên giữ lấy trách nhiệm một cách nghiêm túc và bắt buộc Israel chấm dứt việc chiếm đóng bất hợp pháp lãnh thổ Palestine, trả lại cho người Palestine những quyền không thể xâm phạm của họ, bao gồm việc kiểm soát các tài nguyên tự nhiên của Palestine. Chừng nào Israel được thết đãi một cách tử tế và cẩn trọng như là một nhà nước đứng trên luật, các cuộc nói chuyện về hòa bình, gần hay trực tiếp, sẽ tiếp tục là những phương tiện ngoại giao cho Israel thêm thời gian để tạo thêm các sự kiện trên mặt đất; và hòa bình thực sự và công lý sẽ mãi mãi là điều viển vông. 

Phải chăng Palestine là vùng đất khô cằn cho tới khi những người Israel làm cho sa mạc của nó nở hoa?

Bài viết này (đăng ngày 7/11/2001) bổ sung thêm thông tin cho bài viết trước về huyền thoại Israel. Bài viết không nhằm mục đích coi thường công nghệ nông nghiệp của quốc gia "khởi nghiệp" này như đã được quảng cáo rầm rộ trên báo chí dân túy, mà là chứng minh rằng đất đai Palestine là vùng đất màu mỡ, và được người Palestine thực hiện quyền sở hữu và canh tác rất có hiệu quả từ lâu rồi.

Ngay từ những giai đoạn đầu tiên của chủ nghĩa Xi-ôn cho tới bây giờ, những tên Xi-ôn-nít vẫn tuyên truyền huyền thoại rằng dải đất quan trọng nhất trong lịch sử loài người (Palestine) là trống không, và khô cằn trong 2000 năm, cho tới mãi sau này được người Do Thái Israel phát triển. Dựa trên tài liệu thống kê của Ủy nhiệm Anh và các nguồn khác, huyền thoại về Palestine và người dân bản địa sẽ được chứng minh là sự bịa đặt của Israel nhằm lãng mạn hóa "sự trở lại của người Do Thái và cứu rỗi Vùng Đất Hứa." Độc giả sẽ mau chóng thấy rằng vùng đất khô cằn năm 1948 vẫn khô cằn là một sự kiện có thể dễ dàng chứng minh bằng cách sử dụng Hình ảnh vệ tinh của Google. Hãy xem bản giải thống kê chi tiết sản lượng nông nghiệp của Palestine cho mùa màng năm 1944-1945, chúng tôi sẽ trích dẫn trực tiếp Ủy nhiệm Anh (đã soạn thảo cuốn sách hai tập, có tiêu đề là Tổng quan về Palestine, cho Liên hợp quốc năm 1946-7) như sau:
Người Palestine
Người Do Thái
Tổng cộng
Dunum***
Tấn
Giá trị*
Dunum***
Tấn
Giá trị*
Dunum
Tấn
Giá trị*
Thóc
4,152,438
193,376
4,403,409
215,191
16,579
497,048
4,367,629
209,955
4,900,457
Rau
239,733
189,104
5,113,553
40,207
55,730
1,745,870
279,940
244,834
6,859,423
Cỏ khô
23,970
20,827
156,847
119,578
176,525
951,178
143,543
197,352
1,108,025
Quả**
355,709
73,320
3,139,374
37,217
21,398
1,379,620
392,926
94,718
4,518,994
Ôliu
592,546
78,287
3,320,320
7,587
1,182
53,235
600,133
79,469
3,373,555
Dưa hấu
120,304
135,634
969,630
5,675
7,193
83,975
125,979
142,827
1,053,605
Tổng
5,484,700
690,548
17,103,133
425,455
278,607
4,710,926
5,910,150
969,155
21,814,059
Tỷ lệ
92.8%
71.25%
78.40%
7.20%
28.75%
21.60%
100%
100%
100%
Nguồn: Tổng quan về Palestine, soạn bởi Ủy nhiệm Anh cho Liên hợp quốc, trang 323-327
* Đơn vị theo cân Palestine.
** Quả không thuộc giống cam quýt. Sản lượng cam = 248,274 dunum, trong đó 120,897 dunum là của người Do Thái (Bổ sung cho Tổng quan về Palestine, tr. 37)

*** Một Dunum = 1,000 mét vuông.
Nhấn vào đây để xem các trang được scan chính xác từ  Tổng quan về Palestine mà chúng tôi đã trích dẫn dẫn liệu từ đó.
Hãy chiêm ngưỡng số liệu thống kê đất về Palestine sau đây (dựa trên Sách sự kiện thế giới của CIA) trước khi chúng tôi rút ra các kết luận.
Thống kê đất
Giá trị
Tổng cộng
26,000.0 km2 = 20,000 (Israel) + 6,000 (Bờ Tây + Dải Gaza)
Đất trồng trọt được
4,420.0 km2 = 17% * 26,000 km2.
Đất được trồng bởi người Do Thái
425.4 km2 = 425,455 /1000
Đất được trồng bởi người Palestine
5,484.7 km2 = 5,484,700 /1000
Đóng thùng Cam nổi tiếng của Jaffa 1898-1914.


Dựa trên những thống kê này, rõ ràng rằng người dân bản xứ đã trồng hơn 13 lần những kẻ thực dân châu Âu mới nhập cư tới, giải thích tại sao phần lớn trong số họ thích làm việc trong khu vực dịch vụ và công nghiệp chế tạo. Cần phải nhấn mạnh rằng Cơ quan Do Thái và Quỹ quốc gia Do Thái đã cung cấp hàng đống tiền trợ cấp và ưu đãi (ví dụ như tư vấn miễn phí, các khoản vay, và các chương trình hợp đồng cho thuê dài hạn hấp dẫn) nhằm động viên người Do Thái "cứu rỗi" vùng đất. Mặt khác, nông nghiệp Palestine sinh lợi và duy trì được mà không cần bất kỳ sự trợ giúp nào từ chính quyền địa phương.
Cần phải nhấn mạnh rằng người Do Thái sở hữu dưới 7%  Palestine, trong đó, chỉ 44% đã được người Do Thái sử dụng cho các mục đích nông nghiệp  (nhấn vào đây để xem trang scan chính xác từ  Tổng quan về Palestine tr. 376). Ở khía cạnh này, chúng tôi hỏi độc giả rằng huyền thoại có thể đúng tới cỡ nào nếu người Do Thái canh tác dưới 3% của Palestine?
Ngay sau Nakba, những người Do Thái chiến thắng đã phá hủy phần lớn nông trường và cánh đồng của người Palestine bị chiếm đoạt, đặc biệt là các cánh đồng ô-liu và cam, đòi hỏi rất nhiều sức lao động để duy trì và thu hoạch. Ở khía cạnh này, sẽ rất phù hợp khi trích dẫn nhà văn Xi-ôn người Israel Meron Benvenisti, người đã mô tả quang cảnh Palestine ngay sau Nakba như sau:
"Sự phá hủy hàng trăm nghìn dunum diện tích cây ăn quả không phù hợp với hình ảnh tự xưng của Israel như là một xã hội biết cách làm sa mạc nở hoa. Và luận điệu cho rằng cảnh quan xanh của người Arab đã bị phá hủy là vì sự cần thiết trồng các loại cây cho hoạt động nông nghiệp của người Do Thái chỉ nhấn mạnh rằng, không phải chiến tranh đã gây ra sự tàn phá này, mà là sự biến mất của cộng đồng con người cụ thể đã hình thành quang cảnh phù hợp với nhu cầu và sở thích. Sự phá hủy nhiều diện tích lớn vườn cây ăn quả đã không thu hút được cùng mức độ lợi ích như việc phá hủy các làng người Arab, mặc dù nó có thể mang tới nhiều tác động tàn phá đối với cảnh quan." (Cảnh quan thiêng liêng, trang. 165) Nhấn vào đây để xem bộ phim tài liệu để xem cách người Israel đã nhổ gốc trên nửa triệu cây ô-liu ở khu vực Bờ Tây bị chiếm đóng.
Hãy phân tích huyền thoại được pha chế này từ góc nhìn khác bằng cách so sánh sản lượng nông nghiệp hiện tại của người Li-băng và Israel. Dựa trên Sách sự kiện thế giới trực tuyến của CIA, chúng tôi đã sưu tầm được các dữ liệu sau cho năm 2006:
Israel
Li-băng
Tổng diện tích đất
20,330 km2
10,230 km2
Đất trồng trọt được
3,140 km2= 15.45% * 20,330 km2
1,672 km2= 16.35% * 10,230 km2
Đất được tưới
1,940 km2 (2003)
1,040 km2 (2003)
Dân số
6.4 triệu
3.93 triệu
Tổng GDP
$140.3 tỷ (2006 est.)
$19.89 tỷ (2006 est.)
Sản lượng nông nghiệp
$3.64 tỷ = 2.6% of GDP
$1.39 tỷ = 7% of GDP
Lực lượng lao động trong nông nghiệp
2.6% of 2.42 triệu = 62,920
N/A
Nguồn


Công ty cam Jaffa , bị cướp bởi người Do Thái Israel, nhấn vào để phóng to

Sau khi điều chỉnh thống kê của Li-băng nhằm phản ánh sai khác cỡ (trong cỡ đất trồng trọt được và dân số) so sánh với Israel, sản lượng nông nghiệp Li-băng trở thành 2.8 tỷ đô-la, ít  hơn chút  so với Israel (3.64 tỷ đô-la). Khi chiêm ngưỡng các sự kiện này, các sự kiện sau về cả hai nước cũng đáng chú ý:
  • Phần lớn dân số người Do Thái Israel là người thành thị, sống tập trung chủ yếu ở trong và xung quanh các thành phố Tel-Aviv-Jaffa, Jerusalem, và Haifa; điều này giải thích tại sao chỉ có 2.6% lực lượng lao động của Israel hoạt động trong nông nghiệp. Bạn đọc có thể ngạc nhiên rằng Israel có tỷ lệ người thành thị cao nhất trong các nước công nghiệp,  nhấn vào đây cho minh họa đồ thị.
    http://lw.palestineremembered.com/ZionistFAQ.gif
  • Nông nghiệp ở Israel luôn luôn được trợ cấp mạnh mẽ bởi chính phủ Israel, nói cách khác, sản lượng nông nghiệp của Li-băng lẽ phải lớn hơn nhiều so với 1.39 tỷ.
    http://lw.palestineremembered.com/ZionistFAQ.gif
  • Israel đang đầu tư hàng tỷ đô-la, phần lớn được tài trợ bởi những người đóng thuế Hoa Kỳ, để làm chệch dòng nước sạch từ sông Jordan và biển hồ Tiberius. Mặt khác, Li-băng không có cái may mắn đó, tất cả nước sạch của Li-băng đều chảy ra biển mà không có nỗ lực nào giữ nước lại.
    http://lw.palestineremembered.com/ZionistFAQ.gif
  • Cơ sở hạ tầng của Li-băng bị tàn phá trong suốt cuộc chiếm đóng của Israel các năm 1982-2000 và nội chiến. Và nếu không phải vì sự tàn phá này, sản lượng nông nghiệp của Li-băng lẽ ra phải lơn nhiều so với 1.39 tỷ đô-la/năm.

Hay nói cách khác, do xã hội Li-băng và Palestine đã rất giống nhau ở nhiều khu vực, dễ dàng có thể kết luận rằng người Palestine lẽ ra cũng sản xuất được nhiều như người Li-băng nếu họ không bị tước bởi người Israel.
Cũng cần phải nhấn mạnh rằng ngay cả những kẻ Xi-ôn-nít hăng hái nhất cũng khó có thể bác bỏ được rằng các đồn điền cam Jaffa đã được trồng đầu tiên, được bán ở thị trường châu Âu, được đóng gói, và thu hoạch chủ yếu bởi các công ty của người Arab Palestine, nhấn vào đây để xem bằng chứng. Vào khoảng năm 1891, Ahad Ha'Am (tiểu luận gia người Do Thái Đông Âu hàng đầu) đã cố gắng làm sáng tỏ cho nhiều người Do Thái về việc Palestine không phải vùng đất hoang vắng, ông đã thuật lại dựa theo chuyến thăm Palestine trong 3 tháng năm 1891:
"Chúng ta ở nước ngoài thường tin rằng Eretz Yisrael (vùng đất Israel, chú thích của N.D.) bây giờ là hoàn toàn hoang vắng, một sa mạc không được gieo trồng ..... Nhưng sự thật không phải vậy. Khắp đất nước, khó tìm được nơi nào mà không được gieo trồng. chỉ có các cồn cát và núi đá ... là không được trồng trọt mà thôi. " (Righteous Victims, tr. 42)
Cứ giả sử một lúc rằng huyền thoại vô căn cứ là sự thật, những câu hỏi mà nhiều người Palestine hỏi là:
  • Thậm chí nếu "đúng" là người Do Thái đã làm sa mạc của người Palestine nở hoa, điều đó có hợp pháp hóa sự ăn cắp trắng trợn nhà cửa, nông trại, kinh doanh, ngân hàng, xe ôtô, xe buýt, trường học v.v. của người Palestine không? Điều đó có biện minh cho việc trục xuất người dân bản địa để dọn đường cho những người tị nạn Do Thái ở châu Âu mới tới không? Cần phải lưu ý rằng người Palestine sở hữu và điều hành hơn 93% đất đai Palestine, như năm 1945, nhấn vào đây để xem minh họa bản đồ. Tháng 11/1947, kiến trúc sư của "giải pháp chuyển giao", Yosef Weitz, đã phát biểu rằng, sự TƯỚC ĐOẠT tập thể người Palestine là một điều không thể tránh khỏi vì tỷ lệ sở hữu đất cao của người Palestine. Ông nói:
"[phần lớn đất đai] không phải do người Do Thái sở hữu hoặc thậm chí trong phạm trù nhà nước mà quyền sở hữu có thể tự động được thừa nhận bởi chính phủ kế tiếp. Như vậy, trong số 13,500,000 dunum (6,000,000 trong đó là sa mạc, và 7,500,000 dunum là đất trồng trọt được) của nhà nước Do Thái theo kế hoạch Phân Chia, chỉ có 1,500,000 dunum là do người Do Thái sở hữu. " (Trục xuất người Palestine, tr. 182)
  • Có ai có thể hợp pháp hóa sự ăn cắp trắng trợn các ngôi nhà, ôtô, ngân hàng, trường học... v.v. của người New York Hoa Kỳ, bởi vì những người Do Thái Hoa Kỳ là những người đã chuyển đổi thành phố New York thành trung tâm công nghiệp và tài chính của thế giới? Không chỉ người Mỹ gốc Do Thái là cộng đồng thiểu số lớn nhất ở thành phố New York, họ gần như xây dựng chúng từ con số 0. Hay nói cách khác, nếu một lý luận như thế biện minh cho việc tước đoạt và tẩy máu dân tộc Palestine, tại sao nó không phải là một lý luận tốt cho việc tước đoạt tập thể và tẩy máu dân cư Mỹ không có gốc Do Thái ở thành phố New York?

Mặc dù dối trá trắng trợn, huyền thoại vô căn cứ này cố gắng vẽ lên một cảnh tượng lãng mạn cho "Miền đất hứa", tức là nó khô cằn trong 2000 năm, cho tới khi "những người Do Thái trở lại" làm cho sa mạc "nở hoa". Thật đáng buồn khi thấy huyền thoại này lan xa thế nào trong xã hội và hệ thống trường học Israel nhằm hợp pháp hóa sự chiếm đoạt tập thể người Palestine.